Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khởi nghiệp đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và giải quyết các bài toán an sinh xã hội thông qua việc tạo lập việc làm mới. Trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam, tình trạng sinh viên tốt nghiệp đại học đối mặt với nguy cơ thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc làm việc trái chuyên môn đào tạo đang diễn ra phổ biến. Nhằm tạo lập môi trường hỗ trợ đổi mới sáng tạo, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" và Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/11/2017 phê duyệt Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" giao Bộ Giáo dục và Đào tạo làm cơ quan thường trực. Thống kê từ khảo sát PIC năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ghi nhận 84% chủ doanh nghiệp khởi nghiệp trong 3 năm gần nhất sở hữu trình độ đại học và 72% ở độ tuổi trên 30.

Trường Đại học Bình Dương là cơ sở giáo dục đại học đảm nhận sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực y tế và dược học cho tỉnh Bình Dương và các khu vực lân cận, vận hành theo triết lý giáo dục 4H ("Học – Hỏi – Hiểu – Hành"). Bên cạnh các định hướng tìm kiếm việc làm truyền thống tại cơ sở y tế hay doanh nghiệp dược phẩm, nhu cầu tự lập nghiệp thông qua việc mở nhà thuốc tư nhân hoặc thành lập doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm đang ngày càng gia tăng trong sinh viên ngành Dược. Mặc dù các nghiên cứu về ý định khởi nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam đã tiếp cận nhiều nhóm đối tượng thuộc khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh hoặc công nghệ thông tin, mảng nghiên cứu thực nghiệm trên sinh viên khối ngành khoa học sức khỏe — đặc biệt là sinh viên ngành Dược tại tỉnh Bình Dương — vẫn chưa được thực hiện. Do đó, khóa luận thực hiện đề tài "Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương năm 2023" nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối ngành Dược Trường Đại học Bình Dương.
  2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối ngành Dược Trường Đại học Bình Dương; từ đó đề xuất các kiến nghị thực tiễn nhằm trang bị kỹ năng và thúc đẩy nhận thức khởi nghiệp cho người học.
  • Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên chính quy năm cuối Khóa 21 thuộc Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương (bao gồm các lớp 21DH01, 21DH02 và 21DH03 tại phân hiệu Cà Mau).
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Bình Dương (trụ sở chính và phân hiệu Cà Mau).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ ngày 01/09/2023 đến ngày 01/12/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa và tích hợp hai mô hình lý thuyết nền tảng trong nghiên cứu hành vi kinh doanh:

  1. Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991): Giải thích ý định hành vi thông qua 3 tiền đề chính gồm Thái độ đối với hành vi (Attitude toward the behavior), Chuẩn mực chủ quan (Subjective norms) và Năng lực kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control).
  2. Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (Shapero’s Entrepreneurial Event Theory – SEE) của Shapero & Sokol (1982), được phát triển bởi Krueger et al. (2000): Nhấn mạnh ý định khởi nghiệp được quyết định bởi Nhận thức về sự mong muốn (Perceived desirability), Nhận thức về tính khả thi (Perceived feasibility) và Khuynh hướng hành động (Propensity to act).

Dựa trên việc đối sánh lý thuyết và tổng quan các công trình thực nghiệm liên quan (Kolvereid, 1996; Mazzarol, 1999; Sally et al., 2017; Bùi Nhật Vượng, 2020; Ngô Thị Thanh Tiên & Cao Quốc Việt, 2016), tác giả xây dựng khung phân tích gồm 4 giả thuyết nghiên cứu chính:

  • H01: Mong muốn khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H02: Tính khả thi của khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H03: Khuynh hướng hành động có ảnh hưởng tích cực tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H04: Giáo dục về khởi nghiệp có ảnh hưởng tích cực tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.

Thang đo được thiết kế theo dạng Likert 5 mức độ (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) gồm 27 biến quan sát, chia thành 4 nhóm biến độc lập và 1 nhóm biến phụ thuộc:

Nhóm biến số Ký hiệu Số lượng biến quan sát Nguồn gốc thang đo kế thừa
Mong muốn khởi nghiệp (Biến độc lập) MM 9 biến (MM1 – MM9) Kickul & Krueger (2004), Leong (2008), Linan & Chen (2009)
Tính khả thi khi khởi nghiệp (Biến độc lập) KT 7 biến (KT1 – KT7) Forbes (2005)
Khuynh hướng hành động (Biến độc lập) KH 3 biến (KH1 – KH3) Levenson (1974), Mary Thuo (2016)
Giáo dục về khởi nghiệp (Biến độc lập) GD 5 biến (GD1 – GD5) Leong (2008), Nguyen Phuong Mai (2018)
Ý định khởi nghiệp (Biến phụ thuộc) YD 3 biến (YD1 – YD3: mở nhà thuốc, mở DN Dược, khởi nghiệp chung) Tác giả đề xuất

Quy trình nghiên cứu kết hợp hai giai đoạn:

  • Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sơ bộ nhóm tập trung gồm 5 sinh viên Khóa 21 nhằm rà soát tính rõ ràng về ngữ nghĩa, điều chỉnh nội dung bảng câu hỏi phù hợp với môi trường đào tạo Dược học tại Trường Đại học Bình Dương.
  • Nghiên cứu định lượng: Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ $n = Z_{1-\alpha/2}^2 \cdot \frac{p(1-p)}{d^2}$ với $\alpha = 0,05$ ($Z = 1,96$), tỷ lệ ước lượng $p = 0,74$, sai số $d = 0,08$, cho ra quy mô mẫu lý thuyết tối thiểu là 115. Đồng thời, theo quy tắc phân tích nhân tố khám phá EFA (cỡ mẫu tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát: $24 \times 5 = 120$, văn bản xác định cỡ mẫu tối thiểu cần đạt là 100).
  • Thu thập dữ liệu: Phối hợp phát phiếu khảo sát trực tiếp (offline) tại hội thảo kết nối doanh nghiệp (30 phiếu) và khảo sát trực tuyến (online) qua Google Forms chia sẻ trên Zalo/Facebook (85 phiếu). Tổng số phiếu thu về là 115 phiếu; sau sàng lọc loại bỏ 5 phiếu không hợp lệ (do trùng lặp hoặc thiếu thông tin), còn lại 110 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 22.0 để thực hiện:
    • Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu theo đặc trưng nhân khẩu học.
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo thông qua hệ số Cronbach's Alpha (chấp nhận khi hệ số $\ge 0,6$ và tương quan biến - tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0,3$).
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) bằng phương pháp trích Principal Components, phép xoay vuông góc Varimax, kiểm định KMO ($0,5 \le \text{KMO} \le 1$), kiểm định Bartlett (Sig. $< 0,05$), hệ số tải Factor Loading $> 0,5$ và giá trị Eigenvalue $> 1$.
    • Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến nhằm kiểm định mức độ phù hợp của mô hình qua hệ số $R^2$ hiệu chỉnh, kiểm định ANOVA ($F$) và kiểm định ý nghĩa của hệ số hồi quy chuẩn hóa Beta ($t$, Sig. $< 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Phần Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa cơ sở lý luận về khởi nghiệp (Entrepreneurship) và ý định khởi nghiệp từ các nghiên cứu kinh điển. Tác giả phân tích các nhân tố tiền đề tác động đến ý định kinh doanh thông qua 3 nhóm: nhóm nhân khẩu học và nền tảng cá nhân (giới tính, kinh nghiệm, nền tảng gia đình), nhóm đặc điểm tính cách và thái độ (quỹ tích kiểm soát nội tại, mức độ chấp nhận rủi ro, nhu cầu thành tích), và nhóm nhân tố bối cảnh (môi trường đào tạo, hỗ trợ xã hội).

Đồng thời, phần tổng quan điểm qua các văn bản chỉ đạo của Nhà nước (Đề án 844, Đề án 1665) và thực tiễn hoạt động phong trào tại Trường Đại học Bình Dương như Câu lạc bộ Khởi nghiệp, Câu lạc bộ Thuốc và Sức khỏe, Cuộc thi "BDU Start-up Contest 2022". Từ đó, tác giả thiết lập khung mô hình phân tích tích hợp giữa mô hình SEE và yếu tố Giáo dục khởi nghiệp để kiểm định trên sinh viên Dược.

Phần Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu hai giai đoạn (định tính và định lượng), cách thức mã hóa 27 biến quan sát của thang đo, phương pháp chọn mẫu thuận tiện có tiêu chí loại trừ rõ ràng đối với sinh viên không đồng ý tham gia hoặc vắng mặt.

Quy trình thu thập dữ liệu được thực hiện chặt chẽ qua hai kênh online (Google Forms) và offline (phiếu giấy) đối với sinh viên 3 lớp: 21DH01, 21DH02 và 21DH03. Ngoài ra, phần này quy định cụ thể các tiêu chuẩn thống kê dùng trong SPSS 22.0 để làm sạch dữ liệu, kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích EFA và phân tích hồi quy đa biến, đảm bảo tuân thủ tính trung thực và các chuẩn mực đạo đức nghiên cứu khoa học.

Phần Kết quả nghiên cứu và Bàn luận

Chương này công bố chi tiết số liệu thống kê mô tả mẫu khảo sát ($N = 110$) và kết quả kiểm định định lượng của mô hình.

Về cơ cấu nhân khẩu học:

  • Nữ giới chiếm đa số với 70 sinh viên (63,60%), nam giới có 40 sinh viên (36,40%), tỷ lệ nữ cao hơn nam 27,20%.
  • Phân bổ theo lớp: Lớp 21DH01 chiếm 54,50% (60 sinh viên), lớp 21DH02 chiếm 25,50% (28 sinh viên), lớp 21DH03 (phân hiệu Cà Mau) chiếm 20,00% (22 sinh viên).
  • Chuyên ngành đào tạo: Quản lý và cung ứng thuốc chiếm áp đảo với 81,80% (90 sinh viên), chuyên ngành Sản xuất thuốc chiếm 18,20% (20 sinh viên).
  • Tiếp cận giáo dục khởi nghiệp: 80,00% sinh viên (88 người) đã từng tham gia các khóa học hoặc chương trình đào tạo về khởi nghiệp do lớp hoặc Nhà trường tổ chức; 20,00% (22 người) chưa từng tham gia do khóa 21 chưa đưa học phần này thành môn học kỹ năng bắt buộc.
  • Kinh nghiệm làm việc: 81,80% (90 sinh viên) đã có kinh nghiệm làm việc thực tế bên ngoài thông qua công việc làm thêm; 18,20% (20 sinh viên) chưa có kinh nghiệm.
  • Nền tảng kinh doanh gia đình: 54,55% (60 sinh viên) có gia đình hiện đang kinh doanh, trong khi 45,45% (50 sinh viên) không có truyền thống kinh doanh gia đình.

Về kết quả kiểm định mô hình đo lường và cấu trúc: Thang đo 27 biến quan sát đạt độ tin cậy nội tại cao với hệ số tương quan biến - tổng $> 0,3$ và hệ số Cronbach's Alpha các thành phần đều $> 0,6$. Phân tích EFA xác nhận tính hội tụ và phân biệt với hệ số tải nhân tố đều $> 0,5$. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến ghi nhận hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,893$, chứng minh 4 nhân tố giải thích được 89,3% sự biến thiên trong ý định khởi nghiệp của sinh viên Dược.

Phần Kết luận và Kiến nghị

Khẳng định sự phù hợp của mô hình 4 nhân tố tác động lên ý định khởi nghiệp. Kết quả phân tích hồi quy chỉ ra "Giáo dục khởi nghiệp" là nhân tố có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất.

Từ các phát hiện nghiên cứu, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp: chính thức hóa việc đưa học phần khởi nghiệp vào chương trình đào tạo bắt buộc cho các khóa sau (từ Khóa 22), tăng cường liên kết giữa Viện Dược học với các doanh nghiệp ngành Dược để truyền cảm hứng và hướng dẫn thực tế, tổ chức định kỳ các cuộc thi và sân chơi sáng tạo, đồng thời chú trọng định hướng khởi nghiệp gắn liền với chuyên ngành Quản lý và cung ứng thuốc nhằm hỗ trợ sinh viên hiện thực hóa ý định mở nhà thuốc hoặc cơ sở kinh doanh dược phẩm.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các chỉ số thực nghiệm phản ánh cấu trúc mẫu nghiên cứu và kiểm định độ tương thích của mô hình:

Đặc trưng khảo sát Phân loại Tần số ($N=110$) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 40 36,40%
Nữ 70 63,60%
Lớp học 21DH01 60 54,50%
21DH02 28 25,50%
21DH03 (Phân hiệu Cà Mau) 22 20,00%
Chuyên ngành Quản lý cung ứng thuốc 90 81,80%
Sản xuất thuốc 20 18,20%
Học khởi nghiệp Đã học 88 80,00%
Chưa từng học 22 20,00%
Kinh nghiệm làm việc Đã có kinh nghiệm 90 81,80%
Chưa có kinh nghiệm 20 18,20%
Gia đình kinh doanh Có kinh doanh 60 54,55%
Không kinh doanh 50 45,45%

Các kết quả thống kê then chốt

  • Toàn bộ 27 biến quan sát thuộc 4 nhân tố độc lập (MM, KT, KH, GD) và 1 nhân tố phụ thuộc (YD) đạt chuẩn độ tin cậy với hệ số Cronbach's Alpha $> 0,6$ và hệ số tương quan biến - tổng $> 0,3$.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA đạt yêu cầu với hệ số tải nhân tố (Factor Loading) $> 0,5$, ma trận xoay trích xuất đủ 4 nhóm nhân tố độc lập.
  • Phương trình hồi quy đa biến có hệ số $R^2$ hiệu chỉnh $= 0,893$, giải thích 89,3% sự biến thiên ý định khởi nghiệp của sinh viên.
  • Nhân tố Giáo dục về khởi nghiệp (GD) được xác định là biến độc lập có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Dược.

Đóng góp học thuật và thực tiễn của đề tài

  • Đóng góp lý luận: Đề tài là công trình nghiên cứu tiên phong áp dụng mô hình Sự kiện Khởi nghiệp (SEE) kết hợp yếu tố Giáo dục khởi nghiệp để phân tích hành vi khởi nghiệp của sinh viên chuyên ngành Dược học tại khu vực tỉnh Bình Dương, bổ sung dữ liệu thực nghiệm cho khối ngành khoa học sức khỏe vốn ít được khảo cứu so với khối ngành kinh tế.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cơ sở khoa học định lượng giúp Ban Giám hiệu Trường Đại học Bình Dương và Ban Lãnh đạo Viện Dược học điều chỉnh chương trình đào tạo, chuyển đổi học phần khởi nghiệp thành môn học kỹ năng bắt buộc (từ khóa 22), đồng thời thiết lập các mô hình gắn kết doanh nghiệp và câu lạc bộ chuyên môn (CLB Thuốc và Sức khỏe, CLB Đông Y) nhằm hỗ trợ sinh viên lập nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận các giới hạn nghiên cứu chính dựa trên phạm vi triển khai thực tế:

  • Quy mô và phạm vi mẫu: Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát trên sinh viên năm cuối Khóa 21 thuộc Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương với 110 mẫu hợp lệ, chưa mở rộng sang các khóa sinh viên năm thứ nhất đến năm thứ tư hoặc đối sánh liên trường giữa các cơ sở đào tạo Dược học khác trong khu vực.
  • Cơ cấu chuyên ngành chưa đồng đều: Mẫu khảo sát có sự chênh lệch lớn giữa sinh viên chuyên ngành Quản lý cung ứng thuốc (81,80%) và Sản xuất thuốc (18,20%), phản ánh thiên hướng lựa chọn nghề nghiệp thực tế nhưng có thể làm giảm tính khái quát hóa cho nhóm sinh viên thiên về sản xuất - nghiên cứu phát triển thuốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai cần mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên nhiều khóa học và nhiều trường đại học đào tạo ngành Dược; đồng thời có thể áp dụng các phương pháp nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal study) để theo dõi hành vi khởi nghiệp thực tế của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Giá trị tham khảo

Công trình khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Dược và khối ngành Khoa học Sức khỏe: Là tài liệu tham khảo trực tiếp về phương pháp thiết kế bảng hỏi, cách thức vận dụng thang đo Likert trong nghiên cứu hành vi và quy trình phân tích định lượng bằng SPSS 22.0 (từ kiểm tra độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích EFA đến phân tích hồi quy).
  • Cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên đại học: Cung cấp minh chứng thực nghiệm về tác động sâu sắc của giáo dục khởi nghiệp đối với định hướng nghề nghiệp của sinh viên Dược, làm cơ sở xây dựng đề cương môn học kỹ năng khởi nghiệp và phát triển hệ sinh thái hỗ trợ sinh viên đổi mới sáng tạo trong trường đại học.
  • Các nhà nghiên cứu về kinh tế y tế và khởi nghiệp: Cung cấp bộ thang đo đã được kiểm định độ tin cậy với hệ số giải thích cao ($R^2$ hiệu chỉnh $= 0,893$), phục vụ việc tái sử dụng hoặc mở rộng mô hình sang các chuyên ngành y dược và điều dưỡng khác.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát trên bao nhiêu sinh viên và cơ cấu mẫu theo lớp học, giới tính như thế nào?

Tổng số phiếu khảo sát thu về là 115 phiếu, sau khi sàng lọc thu được 110 phiếu hợp lệ (5 phiếu bị loại do điền sai quy định hoặc trùng lặp). Cơ cấu mẫu gồm 70 nữ (63,60%) và 40 nam (36,40%). Phân bổ theo 3 lớp Khóa 21 gồm: lớp 21DH01 có 60 sinh viên (54,50%), lớp 21DH02 có 28 sinh viên (25,50%) và lớp 21DH03 tại phân hiệu Cà Mau có 22 sinh viên (20,00%).

2. Khung lý thuyết của nghiên cứu được hình thành từ những mô hình nào?

Nghiên cứu kết hợp hai mô hình nền tảng là Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Mô hình Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (SEE) của Shapero & Sokol (1982) do Krueger et al. (2000) phát triển, đồng thời tích hợp thêm biến số Giáo dục về khởi nghiệp dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm của Leong (2008) và Nguyen Phuong Mai (2018).

3. Thang đo của khóa luận gồm bao nhiêu biến quan sát và được phân chia ra sao?

Thang đo tổng thể gồm 27 biến quan sát sử dụng thang đo Likert 5 điểm, chia thành 5 nhóm: Mong muốn khởi nghiệp (9 biến: MM1–MM9), Tính khả thi khi khởi nghiệp (7 biến: KT1–KT7), Khuynh hướng hành động (3 biến: KH1–KH3), Giáo dục về khởi nghiệp (5 biến: GD1–GD5) và Ý định khởi nghiệp (3 biến phụ thuộc: YD1–YD3).

4. Kết quả phân tích hồi quy cho biết mô hình giải thích được bao nhiêu phần trăm sự biến thiên và nhân tố nào ảnh hưởng mạnh nhất?

Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đạt hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,893$, cho thấy 4 nhân tố độc lập giải thích được 89,3% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp ở sinh viên Dược. Trong 4 nhân tố nghiên cứu, nhân tố "Giáo dục về khởi nghiệp" có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất tới ý định khởi nghiệp.

5. Tỷ lệ sinh viên đã học khởi nghiệp và có kinh nghiệm làm việc trong mẫu khảo sát đạt mức nào?

Trong số 110 sinh viên tham gia khảo sát, có 80,00% (88 sinh viên) đã từng học qua các lớp/chương trình khởi nghiệp do trường hoặc lớp tổ chức và 81,80% (90 sinh viên) đã có kinh nghiệm làm việc thực tế bên ngoài thông qua các công việc làm thêm trước khi tốt nghiệp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Xuân Thu đã hệ thống hóa và kiểm định thành công mô hình các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương năm 2023. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng trên mẫu 110 sinh viên Khóa 21, nghiên cứu xác lập mô hình gồm 4 nhân tố (Mong muốn khởi nghiệp, Tính khả thi, Khuynh hướng hành động, Giáo dục khởi nghiệp) với hệ số giải thích $R^2$ hiệu chỉnh đạt 89,3%, trong đó Giáo dục khởi nghiệp là yếu tố tác động then chốt nhất. Kết quả nghiên cứu là nguồn cứ liệu thực chứng quan trọng phục vụ công tác đổi mới chương trình đào tạo Dược học và xây dựng chính sách hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp tại nhà trường.