Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế đổi mới sáng tạo, phong trào khởi nghiệp đóng vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo lập việc làm mới và giải quyết các áp lực xã hội. Tại Việt Nam, chủ trương khuyến khích khởi nghiệp được thể chế hóa thông qua Đề án "Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025" (Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016) và Đề án "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025" (Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/11/2017 của Thủ tướng Chính phủ). Dữ liệu điều tra PIC năm 2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho thấy 84% chủ doanh nghiệp khởi nghiệp có trình độ đại học. Đồng thời, tình trạng sinh viên tốt nghiệp đối mặt với nguy cơ thất nghiệp hoặc làm việc trái ngành đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc trang bị tư duy và năng lực tự tạo việc làm.

Đối với lĩnh vực Dược phẩm – một ngành nghề đặc thù liên quan mật thiết đến chăm sóc sức khỏe cộng đồng – xu hướng sinh viên thành lập nhà thuốc hoặc phát triển doanh nghiệp kinh doanh dược phẩm ngày càng gia tăng. Trường Đại học Bình Dương đảm nhận sứ mệnh đào tạo nhân lực Dược cho tỉnh Bình Dương và khu vực lân cận, triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ như Cuộc thi Sinh viên khởi nghiệp (BDU Start-up Contest 2022), thành lập Câu lạc bộ Khởi nghiệp, Câu lạc bộ Thuốc và Sức khỏe, Câu lạc bộ Đông Y. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong nước về ý định khởi nghiệp chủ yếu tập trung vào khối ngành kinh tế, quản trị kinh doanh hoặc công nghệ thông tin; mảng nghiên cứu trên sinh viên ngành Dược, đặc biệt tại Trường Đại học Bình Dương, chưa được thực hiện. Do đó, đề tài "Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương năm 2023" được tiến hành nhằm giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối ngành Dược Trường Đại học Bình Dương.
  2. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối ngành Dược Trường Đại học Bình Dương; từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hỗ trợ và nâng cao nhận thức, kỹ năng khởi nghiệp cho sinh viên.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng và ý định khởi nghiệp của sinh viên năm cuối khóa 21 thuộc Viện Đào tạo và Nghiên cứu Dược học, Trường Đại học Bình Dương (gồm các lớp 21DH01, 21DH02 tại cơ sở chính và lớp 21DH03 tại phân hiệu Cà Mau).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu từ ngày 01/09/2023 đến ngày 01/12/2023.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Bình Dương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp của hai mô hình hành vi nền tảng và các nghiên cứu thực nghiệm mở rộng:

  • Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior – TPB) của Ajzen (1991): Giả định ý định hành vi chịu tác động bởi ba yếu tố: Thái độ đối với hành vi (Attitude toward the behavior), Chuẩn mực chủ quan (Subjective norms) và Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioral control).
  • Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (Shapero’s Entrepreneurial Event Theory – SEE) của Shapero & Sokol (1982), được phát triển bởi Krueger et al. (2000): Nhấn mạnh hai tiền đề cốt lõi quyết định ý định khởi nghiệp là Nhận thức về sự mong muốn (Perceived desirability) và Nhận thức về tính khả thi (Perceived feasibility), cùng với Khuynh hướng hành động (Propensity to act).
  • Nhân tố mở rộng - Giáo dục khởi nghiệp (Entrepreneurship education): Kế thừa các công trình của Leong (2008), Nguyen Phuong Mai (2018), Bùi Nhật Vượng (2020) và Ngô Thị Thanh Tiên & Cao Quốc Việt (2016), nhấn mạnh vai trò của chương trình đào tạo, hoạt động định hướng và môi trường sáng tạo học đường.

Từ cơ sở trên, 4 giả thuyết nghiên cứu được thiết lập:

  • H01: Mong muốn khởi nghiệp có ảnh hưởng thuận chiều tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H02: Tính khả thi của khởi nghiệp có ảnh hưởng thuận chiều tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H03: Khuynh hướng hành động có ảnh hưởng thuận chiều tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.
  • H04: Giáo dục về khởi nghiệp có ảnh hưởng thuận chiều tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.

Thiết kế và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai theo quy trình kết hợp hai giai đoạn:

  1. Nghiên cứu định tính: Thực hiện nghiên cứu sơ bộ thông qua thảo luận nhóm với 5 sinh viên khóa K21 nhằm hiệu chỉnh thang đo dự kiến, kiểm tra câu chữ và chất lượng bảng hỏi sơ bộ để phù hợp với bối cảnh đào tạo ngành Dược.
  2. Nghiên cứu định lượng: Sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc với thang đo Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý) để đo lường 27 biến quan sát (24 biến độc lập thuộc 4 nhóm nhân tố và 3 biến phụ thuộc đo lường ý định khởi nghiệp).

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

  • Thiết kế mẫu và cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính toán theo công thức ước lượng tỷ lệ với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($Z = 1,96$), sai lệch $d = 0,08$, tỷ lệ ước lượng $p = 0,74$, cho kết quả cỡ mẫu lý thuyết là 115. Đồng thời, theo quy tắc phân tích nhân tố khám phá (EFA) yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu gấp 5 lần số biến quan sát ($27 \times 5 = 135$, tối thiểu 100 quan sát).
  • Thu thập dữ liệu: Tổng cộng phát ra 115 phiếu (kết hợp phát phiếu giấy trực tiếp tại hội thảo doanh nghiệp và khảo sát trực tuyến qua Google Forms trên Zalo/Facebook). Sau khi làm sạch và loại bỏ 5 phiếu khuyết thông tin/trùng lặp, mẫu hợp lệ đưa vào phân tích chính thức gồm 110 quan sát.
  • Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để thực hiện: thống kê mô tả đặc điểm mẫu; đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha (chấp nhận khi Alpha $\ge 0,6$ và tương quan biến - tổng $\ge 0,3$); phân tích nhân tố khám phá EFA (trích Principal Components, phép xoay Varimax, kiểm định KMO $\ge 0,5$, Barlett Sig. $< 0,05$, hệ số tải Factor Loading $> 0,5$, Eigenvalue $> 1$); và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến (kiểm định F ANOVA, t-test với mức ý nghĩa $p < 0,05$).

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề và Tổng quan tài liệu

Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cấu trúc việc làm và chủ trương thúc đẩy đổi mới sáng tạo quốc gia. Tác giả tổng thuật hệ thống nghiên cứu quốc tế và trong nước:

  • Các nghiên cứu quốc tế phân nhóm yếu tố tác động gồm: nhân khẩu học và nền tảng cá nhân (Kolvereid, 1996; Mazzarol, 1999; Sally et al., 2017; Kumar et al., 2023), đặc điểm tính cách và thái độ (Ajzen, 1991; Krueger et al., 2000), và nhân tố bối cảnh/hỗ trợ giáo dục (Lüthje & Franke, 2004).
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam (Bùi Nhật Vượng, 2020; Ngô Thị Thanh Tiên & Cao Quốc Việt, 2016) khẳng định vai trò của môi trường đào tạo và nhận thức cá nhân nhưng chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu đối với khối sinh viên Dược khoa.

Phần này cũng giới thiệu bối cảnh thực tế tại Trường Đại học Bình Dương với triết lý giáo dục "Học – Hỏi – Hiểu – Hành" (4H), việc thành lập các câu lạc bộ chuyên ngành và tổ chức cuộc thi ý tưởng kinh doanh BDU Start-up Contest 2022.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này mô tả chi tiết hệ thống thang đo 27 biến quan sát được mã hóa và kế thừa từ các thang đo chuẩn hóa:

Nhóm nhân tố Mã hóa biến Số biến quan sát Nguồn gốc thang đo kế thừa
Mong muốn khởi nghiệp MM1 – MM9 9 Kickul & Krueger (2004), Leong (2008), Liñán & Chen (2009)
Tính khả thi khi khởi nghiệp KT1 – KT7 7 Forbes (2005)
Khuynh hướng hành động KH1 – KH3 3 Levenson (1974), Mary Thuo (2016)
Giáo dục về khởi nghiệp GD1 – GD5 5 Leong (2008), Nguyen Phuong Mai (2018)
Ý định khởi nghiệp YD1 – YD3 3 Đề xuất của tác giả (thành lập nhà thuốc, DN dược, ý định chung)

Quy trình chọn mẫu và thu thập dữ liệu được phân bổ chi tiết theo từng đơn vị lớp học:

STT Lớp Số lượng thu về Số lượng sau lọc Địa điểm khảo sát Thời gian thu thập
1 21DH01 62 60 (loại 2) Hội trường 1 / Mạng xã hội 20/09/2023
2 21DH02 30 28 (loại 2) Hội trường 1 / Mạng xã hội 20/09/2023
3 21DH03 23 22 (loại 1) Mạng xã hội (Cà Mau) 23/09/2023
Tổng 115 110

Kết quả và bàn luận

Nội dung chương trình bày các kết quả thực nghiệm đạt được từ mẫu 110 sinh viên:

1. Đặc điểm nhân khẩu học và nền tảng của mẫu khảo sát:

Tiêu chí Phân loại Tần số (n=110) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nữ 70 63,60%
Nam 40 36,40%
Khóa lớp 21DH01 60 54,50%
21DH02 28 25,50%
21DH03 22 20,00%
Chuyên ngành Quản lý cung ứng thuốc 90 81,80%
Sản xuất thuốc 20 18,20%
Đã học khởi nghiệp Có 88 80,00%
Chưa từng 22 20,00%
Kinh nghiệm làm việc Có 90 81,80%
Chưa có 20 18,20%
Gia đình đang kinh doanh Có 60 54,55%
Không 50 45,45%

2. Đánh giá độ tin cậy và cấu trúc thang đo:

  • Kiểm định Cronbach's Alpha cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu về độ tin cậy ($\alpha > 0,6$), hệ số tương quan biến - tổng của tất cả các biến quan sát đều lớn hơn 0,3.
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA khẳng định tính thích hợp của mô hình với hệ số KMO nằm trong khoảng 0,5 đến 1, kiểm định Barlett có ý nghĩa thống kê (Sig. $< 0,05$), toàn bộ hệ số tải nhân tố đều đạt chuẩn ($> 0,5$) và giá trị Eigenvalue $> 1$.

3. Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết:

  • Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy mô hình có hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,893$. Điều này chứng minh rằng 4 nhân tố độc lập trong mô hình giải thích được 89,3% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp ở sinh viên Dược.
  • Cả 4 giả thuyết $H_{01}, H_{02}, H_{03}, H_{04}$ đều được chấp nhận ở mức ý nghĩa thống kê. Trong đó, nhân tố "Giáo dục về khởi nghiệp" giữ vai trò tác động mạnh mẽ nhất đến việc hình thành ý định khởi nghiệp của sinh viên.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác lập được bộ công cụ đo lường gồm 27 biến quan sát phù hợp với sinh viên ngành Dược, đạt chuẩn về độ tin cậy (Cronbach's Alpha $> 0,6$, tương quan biến - tổng $> 0,3$) và giá trị hội tụ trong phân tích EFA (Factor loading $> 0,5$).
  • Chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm mô hình hồi quy đa biến đạt độ tương thích cao với $R^2$ hiệu chỉnh $= 0,893$, giải thích 89,3% biến thiên ý định khởi nghiệp.
  • Xác định thứ tự và mức độ tác động của 4 nhóm nhân tố: Giáo dục về khởi nghiệp, Mong muốn khởi nghiệp, Tính khả thi khi khởi nghiệp và Khuynh hướng hành động; khẳng định vai trò trọng tâm của giáo dục khởi nghiệp trong môi trường đại học.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với Nhà trường và Viện Dược học:

  • Đổi mới chương trình đào tạo: Đưa môn học Khởi nghiệp thành học phần kỹ năng bắt buộc cho sinh viên các khóa tiếp theo (từ khóa 22 trở đi); tích hợp kiến thức quản trị kinh doanh dược, pháp chế dược và quản trị kênh phân phối vào giảng dạy.
  • Tăng cường liên kết doanh nghiệp: Đẩy mạnh các chương trình giao lưu, tọa đàm hướng nghiệp với các doanh nghiệp dược phẩm, chuỗi nhà thuốc để truyền cảm hứng và kinh nghiệm thực tế.
  • Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp: Mở rộng quy mô cuộc thi khởi nghiệp (BDU Start-up Contest), phát triển các câu lạc bộ học thuật chuyên sâu (CLB Đông Y, CLB Thuốc và Sức khỏe) và tạo quỹ hỗ trợ các dự án kinh doanh khả thi của sinh viên.

Đóng góp học thuật và thực tiễn

  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm về ý định khởi nghiệp trong khối ngành khoa học sức khỏe tại Việt Nam – một đối tượng ít được tiếp cận so với khối ngành kinh tế và kỹ thuật.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về thực trạng nhận thức, kinh nghiệm làm việc và định hướng nghề nghiệp của sinh viên Dược tại Trường Đại học Bình Dương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận ghi nhận một số giới hạn xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện:

  • Phạm vi không gian và đối tượng: Nghiên cứu chỉ tiến hành khảo sát trên sinh viên năm cuối khóa 21 thuộc Viện Dược học Trường Đại học Bình Dương, chưa mở rộng ra các khóa học khác hoặc các cơ sở đào tạo y dược khác trong khu vực.
  • Quy mô mẫu: Kích thước mẫu khảo sát hợp lệ gồm 110 sinh viên, dù đáp ứng đủ tiêu chuẩn thống kê cho phân tích EFA và hồi quy nhưng vẫn mang tính đại diện cục bộ.
  • Phương pháp tiếp cận: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu cắt ngang tại một thời điểm (tháng 9 đến tháng 12 năm 2023), chưa theo dõi diễn tiến hành vi khởi nghiệp thực tế của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường.
  • Hướng mở rộng: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô mẫu trên nhiều trường đại học đào tạo ngành Dược, bổ sung thêm các biến số bối cảnh như chính sách vốn vay khởi nghiệp, rào cản pháp lý ngành Dược hoặc kiểm định vai trò điều tiết của yếu tố giới tính và nền tảng gia đình.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Dược, Quản trị Y Dược: Tham khảo cấu trúc xây dựng mô hình nghiên cứu hành vi, phương pháp thiết kế bảng hỏi và quy trình xử lý dữ liệu định lượng trong nghiên cứu khoa học ngành Dược.
  • Cán bộ quản lý đào tạo và giảng viên đại học: Sử dụng làm căn cứ thực tiễn để điều chỉnh khung chương trình giảng dạy, lồng ghép học phần khởi nghiệp và tổ chức các hoạt động ngoại khóa hỗ trợ sinh viên định hướng nghề nghiệp.
  • Các nhà nghiên cứu về khởi nghiệp: Cung cấp thang đo tham chiếu đã được kiểm định độ tin cậy cho các nghiên cứu tiếp nối về tinh thần doanh nhân trong khối ngành chăm sóc sức khỏe.

Câu hỏi thường gặp

1. Hai mô hình lý thuyết nền tảng nào được tác giả kết hợp để xây dựng khung phân tích?

Tác giả kết hợp Mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) và Mô hình Lý thuyết Sự kiện Khởi nghiệp (SEE) của Shapero & Sokol (1982), đồng thời tích hợp thêm nhân tố Giáo dục về khởi nghiệp từ các nghiên cứu thực nghiệm.

2. Quy mô mẫu khảo sát và số lượng phiếu hợp lệ đưa vào phân tích là bao nhiêu?

Tổng số phiếu thu về là 115 phiếu (từ 3 lớp 21DH01, 21DH02 và 21DH03). Sau khi sàng lọc và loại bỏ 5 phiếu khuyết hoặc trùng lặp, cỡ mẫu hợp lệ đưa vào phân tích chính thức bằng SPSS là 110 phiếu (đạt tỷ lệ 95,7%).

3. Nhân tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất tới ý định khởi nghiệp của sinh viên trong nghiên cứu?

Nhân tố "Giáo dục về khởi nghiệp" (đo lường qua các hoạt động định hướng, kết nối doanh nghiệp và không khí sáng tạo học đường) được xác định là nhân tố có mức độ ảnh hưởng quan trọng nhất tới ý định khởi nghiệp của sinh viên Viện Dược học.

4. Khả năng giải thích của mô hình hồi quy đa biến trong nghiên cứu đạt bao nhiêu phần trăm?

Mô hình hồi quy đa biến đạt hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,893$, nghĩa là 4 nhân tố trong mô hình giải thích được 89,3% sự biến thiên về ý định khởi nghiệp của sinh viên khảo sát.

5. Tỷ lệ sinh viên khảo sát mong muốn làm việc trong mảng Quản lý cung ứng thuốc so với Sản xuất thuốc là bao nhiêu?

Trong tổng số 110 sinh viên tham gia khảo sát, có 81,80% (90 sinh viên) theo học chuyên ngành Quản lý cung ứng thuốc, trong khi chuyên ngành Sản xuất thuốc chiếm 18,20% (20 sinh viên).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Ngô Thị Xuân Thu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận từ mô hình TPB và SEE để xây dựng và kiểm định thành công thang đo các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Dược Trường Đại học Bình Dương. Kết quả nghiên cứu định lượng trên 110 sinh viên khóa 21 chỉ ra rằng 4 nhân tố (Giáo dục khởi nghiệp, Mong muốn khởi nghiệp, Tính khả thi và Khuynh hướng hành động) giải thích được 89,3% sự biến thiên của ý định khởi nghiệp, trong đó giáo dục khởi nghiệp giữ vai trò chủ đạo. Công trình cung cấp các hàm ý thực tiễn quan trọng giúp nhà trường hoàn thiện chương trình đào tạo kỹ năng kinh doanh dược và xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp chuyên ngành hiệu quả.