CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TINH THAN KHOI NGHIỆP CUA SINH VIÊN 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp và tinh than khởi nghiệp của sinh viên trên thế giới Trên thế giới đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về khởi nghiệp và tỉnh thần khởi nghiệp và chủ yếu được tiếp cận theo các hướng nghiên cứu như sau: Hướng nghiên cứu về độ tuổi tác động đến tỉnh thân khởi nghiệp Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu theo hướng này là các tác giả như Blanch Flower and Oswald (1998), Walstad và Kourilsky (1998), Greene (2005)., các nghiên cứu đều có điểm chung khi cho rằng lực lượng trẻ có đặc điểm nổi trội về nhiệt huyết và tính sáng tạo và luôn có xu hướng sẵn sàng gây dựng một sự nghiệp cho riêng mình. Blanch Flower and Oswald (1998) chỉ ra trong nghiên cứu của họ về 23 quốc gia OECD vào đầu những năm 1990, tinh thần của những người trẻ tuổi ưa chuộng việc tự kinh doanh (self-employment) hơn việc đi làm thuê [43].
Tương tự, Walstad và Kourilsky (1998) đã chứng minh răng tại Mỹ những người trẻ đang quan tâm tới việc bắt đầu một doanh nghiệp nhiều hơn người già [67]. Hay như nghiên cứu mới đây của Bouncken và cộng sự (2016) đã chỉ ra độ tuổi của người khởi nghiệp có ảnh hưởng tới tinh thần khởi nghiệp và kết quả khởi nghiệp, những người trẻ tuôi thường sẵn sàng hơn trong việc bắt đầu một công việc mới [44]. Các tác giả đều cho thay những khó khăn trong việc khởi nghiệp của sinh viên, đặc biệt là trong vấn đề tiếp cận nguồn tài chính. Thập kỷ qua đã chứng kiến sự nở rộ của các nghiên cứu theo lý thuyết khởi nghiệp với nhiều góc nhìn khác nhau.
Tuy nhiên các nghiên cứu này có một số hạn chế, đó là: Tập trung chủ yếu tai các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển — nơi ma người ta khuyến khích con người làm giàu từ rất sớm, với các yếu tô môi trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển doanh nghiệp; cùng với đó là sự hình thành đồng bộ và vận hành hiệu quả của các hệ thống kinh tế thị trường, ví dụ như Mỹ, Anh, Australia, Trung Quốc. Các nghiên cứu chưa xây dựng được một cách đầy đủ và khoa học về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tinh than và sự khởi nghiệp thành công của sinh viên. Các đề xuất đưa ra còn thiếu tính khả thi và khó áp dụng trong tình hình kinh tế hiện nay đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Hướng nghiên cứu về yếu t6 đào tạo đại học với tinh than khởi nghiệp: Trước đây, khi trường phái sử dụng tính cách cá nhân để giải thích hành vi khởi nghiệp chi phối các nghiên cứu trong lĩnh vực khởi nghiệp kinh doanh thì người ta cho rang dao tạo không thé giúp sản xuất ra doanh nhân mà chỉ có thể giúp phát hiện ra doanh nhân; doanh nhân là được sinh ra chứ không phải được tạo ra (born not made) bởi vì chỉ những người có tố chất và tính cách doanh nhân thì mới có khả năng khởi nghiệp kinh doanh, những người không có tố chất đó sẽ không thé trở thành doanh nhân được.
Sau này, nhiều nghiên cứu như của Auto & Keeley (2001) [39], Landstrom (2005) [72], Gnyawali & Fogel (1994)., đã ủng hộ quan điểm giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong phát triển con người và nguồn lực con người [55]. Robinson và cộng sự (1994) lập luận rằng kinh nghiệm làm việc tác động đến khả năng sở hữu doanh nghiệp nhỏ, nhưng không mạnh như giáo dục [81]. Rotefoss và cộng sự (2005) kết luận rằng giáo dục có ý nghĩa nhiều hơn đối với các doanh nhân mới khởi nghiệp [82]. Hynes và cộng sự (2007) thừa nhận rằng giáo dục có ý nghĩa đối với khởi nghiệp và nó không chỉ giới hạn trong trường đại học [62].
Các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong thúc đây tinh thần doanh nhân ở sinh viên vì các thé chế giáo dục là nơi lý tưởng nhất dé truyền tải về văn hóa, tư duy, suy nghĩ mang tính sáng tạo, đổi mới không ngại rủi ro của doanh nhân cho sinh viên. Đặc biệt đối với đối tượng sinh viên đang trên giảng đường đại học, những gì họ được tiếp nhận trong thời kỳ học đại học có tác động lớn tới việc hình thành suy nghĩ, quan điểm sống sau này. Trên quan điểm đó, sau này với sự nổi lên của các nghiên cứu dựa trên tâm lý học xã hội về hành vi dự định thì nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra chương trình dao tạo đại học nói chung va dao tạo khởi nghiệp nói riêng, môi trường học đại học, các hỗ trợ của trường, các hoạt động của sinh viên ở trường đại học có fác động rất tích cực tới mong muốn, sự quan tâm và định hướng khởi nghiệp kinh doanh trong tương lai của sinh viên, thậm chí tác động tới cả sự thành công của các doanh nghiệp được thành lập sau ngày sinh viên ra trường. Nghiên cứu trên quy mô lớn của Kim va Hunter (1993) đã khăng định rằng đào tạo đại học có tác động tới thái độ của các cá nhân về khởi nghiệp, thái độ tích cực và ham muốn khởi nghiệp làm cho cá nhân có dự định khởi nghiệp (50% người có thái độ tích cực với khởi nghiệp thì có dự định khởi sự và 30% dự định khởi nghiệp đã biến thành hành vi khởi nghiệp kinh doanh thực tế) [65].
Tương tự, Zeithaml và cộng sự (1987) va Smith (2008) trong nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp cũng cho thấy, tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa giáo dục khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp của sinh viên [85],[ 94]. Mô hình vai trò của giáo dục đôi với ý định khởi nghiệp của sinh viên được đê xuât bởi 10 Rengiah (2013) đã cho thấy, nội dung chương trình, phương pháp đào tạo và vai trò kiến tạo của nhà trường có ảnh hưởng đến thái độ và ý định khởi nghiệp của sinh viên [79]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo khởi nghiệp nói riêng tới dự định và quyết định khởi nghiệp là rất yếu, không phải chương trình giáo dục đào tạo khởi nghiệp nào cũng có tác động tốt tới thái độ và sự tự tin khởi nghiệp của sinh viên. Hướng nghiên cứu về yếu tổ truyền cảm hứng khởi nghiệp: Truyền cảm hứng cho khởi nghiệp kinh doanh (inspiration) là sự thay đôi cảm xúc và suy nghĩ của cá nhân do bị tác động bởi sự kiện hoặc nhân tô nào đó của chương trình học khởi nghiệp hướng tới cân nhắc về việc có sẵn sàng khởi nghiệp hay không.
Truyền cảm hứng thường liên quan tới sự truyền tải ý tưởng hoặc mục đích nao đó vào suy nghĩ của cá nhân và đánh thức, tạo ra một cam xúc mới cho cá nhân. Truyền cảm hứng thường dẫn tới một suy nghĩ mới, hành vi mới hoặc thay đổi cảm xúc. Souitaris và cộng sự (2007) cho rằng truyền cảm hứng khởi nghiệp tạo ra xúc cảm về một phong cách sống, tình yêu với nghề doanh nhân như vậy làm gia tăng tiềm năng khởi nghiệp của sinh viên đại học. Mặc dù kết quả nghiên cứu định lượng cua Souitaris và cộng sự (2007) trên các sinh viên đang theo học chương trình đào tạo khởi nghiệp theo mô hình TPB lại chưa cho thấy có mối quan hệ giữa truyền cảm hứng và thái độ và cảm nhận về khả năng kiểm soát hành vi khởi nghiệp.
Nghiên cứu trên được thực hiện trong bối cảnh nghiên cứu tác động của khóa học khởi nghiệp tới sinh viên khối kỹ thuật ở Anh [86]. Có nhiều nhà nghiên cứu khác cũng có cùng quan điểm với Souitaris và cộng sự. “Lý thuyét về thay đổi thái độ và hành vi” Jens Uwe Martens (1998) cho răng dé thay đổi hành vi của một cá nhân, thì việc cung cấp kiến thức cho họ là chưa đủ mà phải thay đổi thái độ, suy nghĩ, cảm xúc của họ [89]. Tri thức và 11 cảm xúc luôn đi đôi với nhau.
Việc học tập qua sách vở chỉ cung cấp kiến thức thuần túy. Như vậy, các mục tiêu giáo dục chỉ đạt được néu nhà trường kết hợp giáo dục kiến thức với giáo dục ý thức, xúc cảm của người học. Nghiên cứu định tính của Florin và cộng sự (2007) cũng cho rằng nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học nói chung và các chương trình đào tạo khởi nghiệp nói riêng là tạo ra một thái độ tích cực về khởi nghiệp và làm chủ doanh nghiệp qua việc truyền bá tư tưởng, giáo dục ý thức [1]. Gnyawali and Fogel (1994) cũng đã chỉ ra sự ưa thích nghề nghiệp của sinh viên dé bi tác động các yếu tố môi trường đại học vì họ đang còn trẻ và đang trong quá trình tìm kiếm con đường thích hợp do vậy các hoạt động định hướng, giáo dục nhận thức là rất quan trọng đối với sinh viên khi còn trên giảng đường đại học [55].
Alsos và cộng sự (1998), Krueger và cộng sự (2000) cho rằng nguồn cảm hứng, sự đam mê kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến việc quyết định tự mình khởi sự kinh doanh và là một phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh [36],[ 71]. Kolvereid và cộng sự (2006) phát hiện ra người có cảm hứng khởi nghiệp có ý định khởi nghiệp cao hơn người có cảm nhận rủi ro khi khởi nghiệp [66]. Nghiên cứu của Autio (2001) trên ở sinh viên các ngành kỹ thuật trên 4 nước thì tác động của môi trường nhận thức là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất thái độ của sinh viên về khởi nghiệp hơn các hỗ trợ về nguồn lực và thé chế [39]. Từ việc tổng hợp các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước về khới nghiệp, tác giả xin khái quát một số nhân tố mà các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến theo ba hướng nghiên cứu trong bảng tông hợp dưới đây: 12 Bảng 1.1: Bảng tóm tắt một sô nghiên cứu ngoài nước có liên quan Hướng nghiên cứu về độ tuổi tác động đến tỉnh thần khởi nghiệp Các nhân tổ ảnh hưởng ctinh á than nh và ý định h khởihưởng | 5 s #| = deol el et)eo| lễ &.