Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9 34 01 01) của nghiên cứu sinh Lương Ngọc Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Bùi Xuân Phong, được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2019 với đề tài: “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội”.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong giai đoạn 2014–2018, phong trào khởi nghiệp sáng tạo (start-up) tại Việt Nam và thủ đô Hà Nội có bước phát triển mạnh mẽ. Theo Báo cáo Chỉ số Khởi nghiệp Việt Nam 2015–2016 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện trên 2.000 người trưởng thành và 36 chuyên gia, nhận thức về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam tăng mạnh, nhưng nhận thức về năng lực kinh doanh chưa có sự cải thiện tương xứng. Đồng thời, báo cáo PISA năm 2016 cho thấy học sinh Việt Nam đạt thứ hạng cao về Khoa học (thứ 8), Toán (thứ 22) và Đọc hiểu (thứ 32) trong số 72 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng tỷ lệ học sinh, sinh viên biết và tham gia khởi nghiệp lại thuộc nhóm thấp nhất.
Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu đạt 1 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2020 (riêng Hà Nội cam kết đạt tối thiểu 400.000 doanh nghiệp), cùng thực tế cả nước có hơn 280.000 cử nhân đại học chưa có việc làm, việc thúc đẩy sinh viên tham gia khởi nghiệp trở thành yêu cầu thiết thực. Hà Nội hiện có 69 trường đại học, mỗi năm đào tạo hơn 200.000 lao động. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào ý định khởi nghiệp hoặc hoạt động khởi nghiệp đơn lẻ dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) với các nhân tố nội tại, chưa phân tích đầy đủ khái niệm tinh thần khởi nghiệp cũng như vai trò của các yếu tố ngoại cảnh như giáo dục và nguồn vốn hỗ trợ. Sinh viên thể hiện mức độ ý định khởi nghiệp tương đối cao nhưng tỷ lệ thành lập doanh nghiệp thực tế rất thấp; khoảng cách này xuất phát từ việc tinh thần khởi nghiệp chưa đủ vững vàng để chuyển hóa ý định thành hành động.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên, qua đó đề xuất các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tinh thần khởi nghiệp, đặc biệt là tinh thần khởi nghiệp của sinh viên, từ đó xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
- Đánh giá thực trạng mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
- Đưa ra các căn cứ nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Thực trạng tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội hiện nay như thế nào?
- Những nhân tố nào tác động đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội?
- Giải pháp nào cần được thực hiện để nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 08 trường đại học lớn gồm cả khối trường công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội; không khảo sát sinh viên thuộc khối trường quốc phòng, an ninh và y tế.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu định tính được tiến hành từ đầu năm 2016 đến nửa đầu năm 2018; nghiên cứu định lượng khảo sát, thu thập và xử lý dữ liệu từ tháng 5/2018 đến hết tháng 9/2018.
- Phạm vi nội dung: Đánh giá thực trạng tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng (không đánh giá toàn bộ hoạt động khởi sự kinh doanh thực tế). Mô hình xem xét 2 nhóm nhân tố: nhóm bên trong (Kỳ vọng của bản thân, Thái độ về việc khởi nghiệp, Cảm nhận về năng lực bản thân có thể khởi nghiệp, Cảm nhận về tính khả thi, Sự tự tin khởi nghiệp) và nhóm bên ngoài (Chuẩn mực niềm tin, Sự giáo dục, Nguồn vốn cho khởi nghiệp). Luận án không đi sâu phân tích sự khác biệt theo giới tính, niên khóa, ngành học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới theo ba hướng tiếp cận chính:
- Hướng nghiên cứu về tác động của độ tuổi đến tinh thần khởi nghiệp: Blanchflower & Oswald (1998) nghiên cứu tại 23 quốc gia OECD chỉ ra người trẻ tuổi có xu hướng ưa chuộng tự kinh doanh (self-employment) hơn làm thuê; Walstad & Kourilsky (1998) chứng minh thanh niên Mỹ quan tâm đến việc lập nghiệp nhiều hơn người lớn tuổi; Greene (2005) và Bouncken cùng cộng sự (2016) khẳng định độ tuổi tác động trực tiếp đến tinh thần khởi nghiệp, người trẻ có tính năng động cao nhưng gặp rào cản lớn về tiếp cận nguồn vốn.
- Hướng nghiên cứu về vai trò của đào tạo đại học: Autio & Keeley (2001), Landstrom (2005), Gnyawali & Fogel (1994), Robinson cùng cộng sự (1994), Rotefoss cùng cộng sự (2005), Hynes cùng cộng sự (2007) nhấn mạnh giáo dục là yếu tố cốt lõi phát triển nguồn lực con người. Kim & Hunter (1993) khẳng định 50% người có thái độ tích cực nhờ đào tạo sẽ hình thành dự định khởi nghiệp và 30% dự định chuyển hóa thành hành vi thực tế. Zeithaml cùng cộng sự (1987), Smith (2008) và Rengiah (2013) làm rõ mối quan hệ tuyến tính giữa nội dung, phương pháp đào tạo, vai trò kiến tạo của trường đại học với ý định khởi nghiệp của sinh viên.
- Hướng nghiên cứu về yếu tố truyền cảm hứng khởi nghiệp: Souitaris cùng cộng sự (2007) nghiên cứu sinh viên kỹ thuật tại Anh chỉ ra cảm hứng gia tăng tình cảm với nghề doanh nhân; Jens Uwe Martens (1998) đề xuất Lý thuyết về thay đổi thái độ và hành vi, cho rằng cần kết hợp giáo dục kiến thức với cảm xúc; Florin cùng cộng sự (2007), Alsos cùng cộng sự (1998), Krueger cùng cộng sự (2000), Kolvereid cùng cộng sự (2006) và Autio (2001) chứng minh môi trường nhận thức và cảm hứng tác động mạnh mẽ đến thái độ và giảm thiểu cảm nhận rủi ro khi khởi nghiệp.
Về kinh nghiệm quốc tế, luận án phân tích mô hình của Singapore (chính sách đồng đầu tư của Vườn ươm công nghệ NRF hỗ trợ tới 85% vốn tối đa 500.000 SGD, tạo mạng lưới hơn 42.000 start-up năm 2016) và Israel (văn hóa khởi nghiệp từ Đại học Hebrew, giáo dục liên ngành, môi trường chấp nhận rủi ro và tỷ lệ thất bại 97%), cùng khung 7 giai đoạn khởi sự theo Báo cáo GrowAdvisor, JFDI (2012).
Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, các tác giả đi trước đã tiếp cận vấn đề khởi nghiệp dưới nhiều giác độ:
- Nguyễn Ngọc Nam (2011) nghiên cứu ý định khởi nghiệp của phụ nữ.
- Lê Ngọc Thông (2013) khảo sát tinh thần doanh nhân của sinh viên theo học chương trình chất lượng cao tại Đại học Kinh tế Quốc dân.
- Nguyễn Thu Thủy (2012, 2013, 2014) thực hiện chuỗi nghiên cứu về đào tạo đại học, khởi sự doanh nghiệp xã hội và tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên.
- Nguyễn Quốc Nghi cùng cộng sự (2016) khảo sát 400 sinh viên quản trị kinh doanh tại Cần Thơ, xác định 4 nhân tố: thái độ và đam mê, sự sẵn sàng kinh doanh, quy chuẩn chủ quan, giáo dục.
- Phạm Cao Tố cùng cộng sự (2017) khảo sát 411 sinh viên năm 2 và 3 vùng Đông Nam Bộ.
- Nguyễn Hải Quang cùng cộng sự (2017) nghiên cứu 6 nhân tố tác động đến sinh viên Trường Đại học Kinh tế – Luật, trong đó nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng mạnh nhất.
- Đoàn Thị Thu Trang & Lê Hiếu Học (2018) khảo sát 302 sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội dựa trên mô hình TPB.
- Hà Kiên Tân cùng cộng sự (2018) kiểm định vai trò của giáo dục và kiến tạo trên mẫu 1.375 sinh viên Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Bình Dương.
- Phan Thị Lệ Thu cùng cộng sự (2017) khảo sát 200 sinh viên tại Ninh Thuận về 5 yếu tố: thái độ, giáo dục, sự khát khao, tính khả thi, ý kiến người xung quanh và nguồn vốn.
- Các nghiên cứu khác của Võ Thành Khởi (2018) tại Bến Tre (297 sinh viên); Lưu Tiến Thuận cùng cộng sự (2018) tại Cần Thơ (225 sinh viên); Huỳnh Quốc Tuấn cùng cộng sự (2018); Vũ Thanh Tùng cùng cộng sự (2018) tại TP.HCM; Lưu Thanh Thủy (2018); Phan Anh Tú cùng cộng sự (2015); Hoàng Thị Phương Thảo cùng cộng sự (2013).
| Tác giả / Năm |
Mẫu khảo sát |
Các nhân tố chính được xác định |
| Nguyễn Quốc Nghi và cs (2016) |
400 SV tại Cần Thơ |
Thái độ & đam mê, Sự sẵn sàng kinh doanh, Quy chuẩn chủ quan, Giáo dục |
| Phạm Cao Tố và cs (2017) |
411 SV Đông Nam Bộ |
Đam mê kinh doanh, Kinh nghiệm, Giáo dục |
| Nguyễn Hải Quang và cs (2017) |
SV ĐH Kinh tế – Luật |
Nhận thức kiểm soát hành vi, Động cơ làm công, Môi trường, Động cơ làm chủ, Quy chuẩn chủ quan, Hỗ trợ học thuật |
| Đoàn Thị Thu Trang & Lê Hiếu Học (2018) |
302 SV ĐH Bách Khoa HN |
Tính khả thi cảm nhận, Thái độ với khởi nghiệp, Năng lực bản thân cảm nhận |
| Hà Kiên Tân và cs (2018) |
1.375 SV ĐH KT-KT Bình Dương |
Hoạt động đào tạo và kiến tạo, Nhận thức khởi nghiệp |
| Phan Thị Lệ Thu và cs (2017) |
200 SV CĐ Nghề Ninh Thuận |
Thái độ, Giáo dục kinh doanh, Cảm nhận khát khao, Tính khả thi, Người xung quanh, Nguồn vốn |
| Võ Thành Khởi (2018) |
297 SV CĐ Bến Tre |
Thái độ, Giáo dục, Đam mê & kinh nghiệm, Sự ủng hộ, Sự sẵn sàng kinh doanh |
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết
Từ tổng quan tài liệu, luận án xác định 5 khoảng trống tri thức:
- Các mô hình nghiên cứu quốc tế khó áp dụng nguyên bản vào Việt Nam do sự khác biệt về thể chế, trình độ kinh tế thị trường và văn hóa xã hội.
- Các nghiên cứu trong nước tập trung phần lớn ở khu vực phía Nam, ứng dụng khung lý thuyết TPB chủ yếu đo lường các nhân tố tâm lý bên trong, thiếu vắng sự tích hợp đồng thời hai yếu tố ngoại cảnh quan trọng là giáo dục đại học và nguồn vốn khởi nghiệp.
- Chưa có công trình phân định rõ ràng ranh giới và mối quan hệ giữa "ý định khởi nghiệp" và "tinh thần khởi nghiệp".
- Chưa có nghiên cứu toàn diện, quy mô lớn về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội khảo sát đồng thời cả trường công lập và ngoài công lập.
- Chưa giải thích được nguyên nhân căn bản dẫn đến khoảng cách giữa mức độ ý định khởi nghiệp cao nhưng tỷ lệ hành vi khởi sự kinh doanh thực tế thấp ở sinh viên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên:
- Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen (1991), kế thừa từ lý thuyết nhu cầu của Maslow (1954), được phát triển trong nghiên cứu khởi nghiệp bởi Krueger cùng cộng sự (2000), Linan & Chen (2009), Ferreira cùng cộng sự (2012), Amou & Alex (2014).
- Lý thuyết tâm lý học hành vi của Kreitner & Kinicki (2009) về sự căng thẳng thôi thúc hành động khi nhận thức sự thiếu hụt.
- Lý thuyết về thay đổi thái độ và hành vi của Jens Uwe Martens (1998).
- Các quan điểm về tinh thần doanh nghiệp và khởi nghiệp: Richard (1734), Cole (1949), Shapero & Sokol (1982), Begley & Tan (2001), Kelley cùng cộng sự (2011), Fayolle (2013, 2014), Hoàng Văn Hải (2012), Trần Văn Thọ (2002), Nguyễn Ngọc Huyền (2016).
Luận án định nghĩa: Tinh thần khởi nghiệp của sinh viên là ý chí quyết tâm, không ngừng chủ động tìm kiếm, nhận dạng, tận dụng và khai thác tốt các cơ hội để bắt đầu tạo lập một doanh nghiệp, thường bắt nguồn từ việc nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường (vốn, đào tạo...) để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Thang đo Tinh thần khởi nghiệp (TTKN) gồm 6 biến quan sát:
- Đang tìm hiểu về kinh doanh để xem mình có thể khởi nghiệp được không.
- Sẵn sàng làm mọi thứ để khởi nghiệp trở thành doanh nhân.
- Mục tiêu trở thành một doanh nhân.
- Sẽ cố gắng hết sức để tạo lập và duy trì doanh nghiệp của mình.
- Xác định sẽ tạo lập một doanh nghiệp trong tương lai gần (ngay sau khi ra trường).
- Có ý chí lớn về việc khởi sự doanh nghiệp của riêng mình.
Các nhân tố tác động gồm 2 nhóm:
- Nhóm nhân tố bên trong: (1) Kỳ vọng của bản thân; (2) Thái độ về việc khởi nghiệp; (3) Cảm nhận về năng lực bản thân có thể khởi nghiệp; (4) Cảm nhận về tính khả thi; (5) Sự tự tin khởi nghiệp (nhân tố phát hiện mới).
- Nhóm nhân tố bên ngoài: (1) Chuẩn mực niềm tin; (2) Sự giáo dục; (3) Nguồn vốn cho khởi nghiệp.
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện qua tổng quan tài liệu, tham vấn ý kiến chuyên gia và thảo luận chuyên gia (Bảng 2.2) nhằm hiệu chỉnh, bổ sung các biến quan sát trong thang đo phù hợp với bối cảnh sinh viên Hà Nội; tiến hành phỏng vấn sâu chuyên gia (Bảng 3.21) để lý giải các kết quả phân tích định lượng.
- Nghiên cứu định lượng:
- Giai đoạn khảo sát thử nghiệm (khảo sát sơ bộ) nhằm hoàn thiện phiếu khảo sát.
- Giai đoạn khảo sát chính thức được triển khai tại 08 trường đại học lớn trên địa bàn Hà Nội, phân bổ đều giữa khối trường đại học công lập và ngoài công lập (Bảng 2.4).
- Kỹ thuật xử lý và phân tích dữ liệu:
- Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha (Bảng 3.6).
- Phân tích nhân tố khám phá EFA: thực hiện EFA lần 1 cho 35 biến quan sát (Bảng 3.1, Bảng 3.2), sau đó loại 1 biến không đạt yêu cầu và thực hiện EFA lần 2 cho 34 biến quan sát (Bảng 3.3, Bảng 3.4).
- Mã hóa lại các biến và thang đo nghiên cứu (Bảng 3.5, Bảng 3.17).
- Kiểm định phân phối chuẩn dữ liệu (Bảng 3.16).
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến OLS (Bảng 3.18, Bảng 3.20) và phân tích phương sai ANOVA (Bảng 3.19).
- Đánh giá mức độ tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng thông qua phương pháp tính điểm nhân tố bình quân có trọng số (Factor score).
- Kiểm định hệ thống giả thuyết nghiên cứu (Bảng 3.22).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tinh thần khởi nghiệp của sinh viên
Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở lý luận về khởi nghiệp, ý định khởi nghiệp và tinh thần khởi nghiệp của sinh viên. Tác giả tổng thuật các luồng nghiên cứu quốc tế (Bảng 1.1) và trong nước (Bảng 1.2), rút ra bài học kinh nghiệm từ chính sách hỗ trợ khởi nghiệp tại Singapore và Israel. Trên cơ sở Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), chương này phân định rõ sự khác nhau giữa trạng thái nhận thức (ý định) và ý chí hành động thực tế (tinh thần khởi nghiệp). Tác giả thiết lập mô hình nghiên cứu lý thuyết (Sơ đồ 1.1) và đề xuất các giả thuyết về mối quan hệ giữa 8 nhân tố ảnh hưởng (chia làm 2 nhóm bên trong và bên ngoài) với tinh thần khởi nghiệp của sinh viên.
Chương 2: Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả bức tranh thực trạng phát triển doanh nghiệp và phong trào khởi nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2011–2017 thông qua các số liệu thống kê về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, quy mô vốn và lao động (Biểu đồ 2.1, Biểu đồ 2.2, Bảng 2.1). Tiếp đó, chương trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu (Sơ đồ 2.1), thiết kế nghiên cứu định tính với kết quả thảo luận chuyên gia (Bảng 2.2), thiết kế mẫu khảo sát định lượng tại 08 trường đại học ở Hà Nội (Bảng 2.4), quy trình mã hóa thang đo và phương pháp tính toán điểm nhân tố Factor score để đánh giá mức độ biểu hiện của các khái niệm nghiên cứu.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm:
- Phân tích EFA lần 1 trên 35 thang đo chỉ ra sự phân tách của một nhóm biến mới; sau khi loại biến không phù hợp, phân tích EFA lần 2 trên 34 thang đo (Bảng 3.3, Bảng 3.4) đã trích xuất được các nhân tố có ý nghĩa thống kê, trong đó nhân tố mới được đặt tên là "Sự tự tin khởi nghiệp".
- Kiểm định Cronbach's Alpha (Bảng 3.6) xác nhận độ tin cậy của các thang đo.
- Thống kê mô tả thực trạng tinh thần khởi nghiệp (Bảng 3.7) và thực trạng 8 nhân tố tác động (Bảng 3.8 đến Bảng 3.15).
- Kiểm định phân phối chuẩn (Bảng 3.16) và xây dựng mô hình hồi quy bội (Bảng 3.18, Bảng 3.20, phân tích ANOVA tại Bảng 3.19).
- Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu (Bảng 3.22, Sơ đồ 3.1): kết quả khẳng định các nhân tố bên trong và bên ngoài đều có tác động cùng chiều (+) đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Hà Nội; trong đó nhân tố "Sự tự tin khởi nghiệp" và nhân tố "Nguồn vốn cho khởi nghiệp" thể hiện mức độ tác động mạnh hàng đầu. Kết quả định lượng được đối chiếu và củng cố qua phỏng vấn sâu chuyên gia (Bảng 3.21).
Chương 4: Đề xuất giải pháp nâng cao tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội
Dựa trên kết quả phân tích định lượng và xu hướng phát triển kinh tế tư nhân tại Việt Nam, Chương 4 đưa ra hệ thống giải pháp và kiến nghị thực tiễn:
- Nhóm giải pháp đối với các trường đại học:
- Đánh thức ý tưởng khởi nghiệp trong mỗi sinh viên ngay từ trên ghế nhà trường.
- Thay đổi phương pháp đào tạo theo định hướng kiến tạo khởi nghiệp.
- Thay đổi nội dung chương trình đào tạo định hướng khởi nghiệp.
- Nâng cao khả năng huy động vốn cho khởi nghiệp của sinh viên (kết nối quỹ đầu tư, đào tạo kỹ năng gọi vốn).
- Các giải pháp hỗ trợ khác (câu lạc bộ, vườn ươm doanh nghiệp trong trường đại học).
- Nhóm kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước:
- Truyền thông về tinh thần doanh nhân trong toàn xã hội và trường đại học.
- Tổ chức các hoạt động và phong trào khuyến khích khởi nghiệp.
- Đa dạng hóa và tăng cường các hình thức giáo dục đào tạo khởi nghiệp.
- Tích cực hỗ trợ tài chính cho các chương trình khởi nghiệp.
- Hoàn thiện khung thể chế chính sách hỗ trợ khởi nghiệp.
- Sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản tạo cơ sở pháp lý hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp.
- Trình bày các hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Làm rõ nội hàm khái niệm tinh thần khởi nghiệp của sinh viên; phân biệt rõ sự khác biệt giữa tinh thần khởi nghiệp với ý định khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp thực tế.
- Bổ sung vào mô hình nghiên cứu dựa trên TPB hai nhân tố ngoại cảnh quan trọng là "Sự giáo dục" và "Nguồn vốn cho khởi nghiệp" – hai điều kiện tiên quyết đối với đối tượng sinh viên đại học.
- Ứng dụng phương pháp tính điểm nhân tố bình quân có trọng số (Factor score) để đánh giá mức độ tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng, giúp kết quả đo lường có độ chính xác cao hơn phương pháp tính trung bình cộng giản đơn.
- Phát hiện và kiểm định thành công 01 nhân tố mới tác động độc lập đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Hà Nội, được định danh là nhân tố "Sự tự tin khởi nghiệp".
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Lượng hóa cụ thể thực trạng tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố tác động đối với sinh viên tại 08 trường đại học trên địa bàn Hà Nội.
- Xác định rõ chiều hướng và mức độ tác động của từng nhân tố: chứng minh cả 2 nhân tố bên ngoài ("Sự giáo dục" và "Nguồn vốn cho khởi nghiệp") đều có tác động thuận chiều mạnh mẽ đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên; trong đó "Nguồn vốn cho khởi nghiệp" có mức độ tác động lớn thứ hai, chỉ sau nhân tố "Sự tự tin khởi nghiệp".
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính ứng dụng cho các trường đại học tại Hà Nội và các kiến nghị chính sách cụ thể cho cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy phong trào khởi nghiệp sinh viên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Mẫu nghiên cứu mới dừng lại ở 08 trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội; chưa tiến hành khảo sát trên diện rộng toàn quốc và loại trừ nhóm sinh viên thuộc khối ngành quân sự, an ninh, y tế.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung khảo sát tinh thần khởi nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng mà không đánh giá kết quả thực tế của các dự án khởi nghiệp đã triển khai; chưa phân tích sự khác biệt về tinh thần khởi nghiệp giữa các phân nhóm nhân khẩu học (giới tính, khóa học, ngành đào tạo).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát sang các trung tâm đào tạo đại học khác và trên quy mô toàn quốc để kiểm chứng tính đại diện của mô hình.
- Bổ sung các nghiên cứu chuyên sâu đối với sinh viên các khối ngành đặc thù như y dược, an ninh, quốc phòng.
- Đi sâu phân tích sự khác biệt đa nhóm theo đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, chuyên ngành, năm học).
- Nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) về quá trình chuyển hóa từ tinh thần khởi nghiệp thành hành vi thành lập doanh nghiệp và các yếu tố quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị ứng dụng cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, nhà nghiên cứu ngành Quản trị kinh doanh và Kinh tế học: Cung cấp khung lý thuyết mở rộng từ TPB, bộ thang đo chuẩn hóa về tinh thần khởi nghiệp, quy trình phân tích EFA 2 bước và kỹ thuật tính điểm nhân tố bình quân có trọng số Factor score.
- Giảng viên và ban lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học: Tham khảo cơ sở thực nghiệm để đổi mới chương trình giảng dạy, phương pháp đào tạo kiến tạo, thiết lập vườn ươm và cơ chế hỗ trợ vốn cho sinh viên.
- Các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ KH&CN, UBND TP. Hà Nội): Sử dụng các số liệu thực trạng và kiến nghị làm căn cứ xây dựng chính sách, hoàn thiện khung pháp lý và thành lập các quỹ tài trợ khởi nghiệp dành cho giới trẻ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa tinh thần khởi nghiệp của sinh viên như thế nào và có gì khác so với ý định khởi nghiệp?
Luận án định nghĩa tinh thần khởi nghiệp của sinh viên là ý chí quyết tâm, sự chủ động không ngừng tìm kiếm, nhận dạng, tận dụng và khai thác cơ hội kinh doanh nhằm tạo lập doanh nghiệp ngay từ khi còn học đại học. Điểm khác biệt cơ bản là: ý định khởi nghiệp mới chỉ dừng lại ở mong muốn, dự định trong suy nghĩ; trong khi tinh thần khởi nghiệp thể hiện mức độ nhận thức cao hơn, gắn liền với ý chí bền bỉ, tính chủ động khai thác các nguồn lực (vốn, kiến thức đào tạo) và là động lực thúc đẩy biến ý định thành hành động khởi sự thực tế.
2. Mô hình nghiên cứu của luận án có những điểm bổ sung nào so với Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) truyền thống?
So với mô hình TPB truyền thống vốn chủ yếu tập trung vào các nhân tố tâm lý bên trong (thái độ, chuẩn mực chủ quan, nhận thức kiểm soát), luận án đã:
- Tích hợp thêm 02 nhân tố bên ngoài có tính quyết định đối với sinh viên là "Sự giáo dục" (từ nhà trường) và "Nguồn vốn cho khởi nghiệp".
- Phát hiện và tách biệt thêm 01 nhân tố nội tại mới qua phân tích EFA là "Sự tự tin khởi nghiệp".
3. Phương pháp đánh giá thang đo Factor score mà luận án áp dụng có ưu điểm gì?
Khác với phương pháp tính điểm trung bình cộng giản đơn (coi trọng số các biến quan sát như nhau), phương pháp Factor score sử dụng trọng số nhân tố trích xuất từ phân tích EFA để tính điểm bình quân cho từng khái niệm nghiên cứu. Kỹ thuật này giúp phản ánh chính xác hơn mức độ đóng góp thực tế của từng biến quan sát vào thang đo tổng thể.
4. Kết quả hồi quy cho thấy những nhân tố nào tác động mạnh nhất đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Hà Nội?
Kết quả phân tích hồi quy đa biến khẳng định tất cả 8 nhân tố đều tác động thuận chiều (+). Trong đó, nhân tố mới được phát hiện là "Sự tự tin khởi nghiệp" có mức độ tác động mạnh nhất, và nhân tố ngoại cảnh "Nguồn vốn cho khởi nghiệp" có mức độ tác động mạnh thứ hai đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Hà Nội.
5. Dữ liệu định lượng của luận án được thu thập từ nguồn nào và trong khoảng thời gian nào?
Dữ liệu định lượng được thu thập thông qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp đối với sinh viên tại 08 trường đại học lớn (bao gồm cả trường công lập và ngoài công lập) trên địa bàn thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ tháng 5/2018 đến hết tháng 9/2018.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lương Ngọc Minh đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên tại các trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội dựa trên Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB). Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng, luận án đã làm rõ sự khác biệt giữa tinh thần khởi nghiệp và ý định khởi nghiệp, bổ sung hai yếu tố ngoại cảnh quan trọng là giáo dục và nguồn vốn, đồng thời phát hiện nhân tố mới "Sự tự tin khởi nghiệp". Các kết quả thực nghiệm và hệ thống giải pháp đề xuất trong luận án cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác quản trị đại học cũng như hoạch định chính sách hỗ trợ khởi nghiệp thanh niên tại Việt Nam.