CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ KHỞI SỰ KINH DOANH VÀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY KHỞI SỰ KINH DOANH 1. Tổng quan nghiên cứu về khởi sự kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh Khởi sự kinh doanh đã và đang trở nên quan trọng và được coi là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế ở nhiều quốc gia trên thế giới, với nhiều các doanh nghiệp mới được thành lập, cùng với đó là các công việc mới được tạo ra và thu nhập, đời sống của người dân ngày càng tốt hơn (Drucker, 1985; Gorman và cộng sự, 1997). KSKD thường gắn liền với việc tạo ra các doanh nghiệp mới, các sản phẩm/dịch vụ mới, hoặc quy trình hoạt động mới của một công ty, điều đó phần nào giúp nâng cao năng lực đổi mới, năng lực cạnh tranh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia (Thurik và Wennekers, 2004). Abdullah Azhar và cộng sự (2010) tiếp tục khẳng định sự phát triển các hoạt động KSKD góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, giảm bớt tỉ lệ thất nghiệp ở nhiều quốc gia.
Đồng quan điểm đó, Nafukho và Helen Muyia (2010) chứng minh rằng KSKD là điều sống còn trong việc tạo ra và hoàn thiện một nền kinh tế mạnh khỏe. Cũng chính về thế, hướng nghiên cứu về khởi sự kinh doanh nhận được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Các nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu của Lee và cộng sự (2006) cho rằng tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Nghiên cứu của Sobel & King (2008) nhận định khởi nghiệp là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, chính vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi nghiệp là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà chính sách.
Để khơi dậy tinh thần khởi nghiệp thì chương trình giáo dục có tác động hết sức quan trọng. Astebro và cộng sự (2012) cung cấp bằng chứng ở Mỹ cho thấy đào tạo về khởi nghiệp không chỉ là chương trình dành riêng cho sinh viên ngành kinh doanh mà nó còn là chương trình hết sức quan trọng đối với sinh viên thuộc khối khoa học tự nhiên, kỹ thuật và cả trong lĩnh vực nghệ thuật. Rae & Woodier-Harris (2013) cho rằng muốn doanh nghiệp có một nền tảng kiến thức tốt và quản lý doanh nghiệp thành công thì cần phải xây dựng chương trình học khởi nghiệp rộng rãi cho sinh viên, cung cấp cho họ kiến thức cần thiết để khởi nghiệp thành công và định hướng con đường sự nghiệp đúng đắn. Huber và công sự (2014) phân tích hiệu quả của việc giáo dục khởi nghiệp 7 sớm cho các trẻ em tiểu học ở Hà Lan và chứng minh rằng việc đầu tư sớm giáo dục khởi nghiệp cho trẻ em 11 hoặc 12 tuổi mang đến hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức, kỹ năng khởi nghiệp.
Ở mỗi quốc gia khác nhau đều có những nét đặc trưng riêng về văn hóa, kinh tế, chính trị, vì thế nghiên cứu giáo dục khởi nghiệp dựa trên những nét đặc trưng này sẽ góp phần đóng góp quan trọng cho lý thuyết và thực tiễn giáo dục đại học hướng đến thúc đẩy hoạt động khởi sự kinh doanh. Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài khi nghiên cứu về dự định KSKD cho rằng cá nhân với mong muốn tự làm chủ bản thân thường nhận thức được rằng khởi sự kinh doanh là một hướng phát triển nghề nghiệp phù hợp với mình (Daviddson, 1995) và là con đường để theo đuổi ý tưởng, đạt được những mục tiêu cá nhân và thành tựu tài chính của mình (Barringer và Ireland, 2010). Wong và Choo (2009) cũng cho rằng việc bắt đầu một doanh nghiệp không phải là một sự kiện, mà là một quá trình có thể mất nhiều năm suy nghĩ, học hỏi và tạo dựng doanh nghiệp. Một người sẽ không trở thành doanh nhân một cách đột ngột, mà họ sẽ trở thành doanh nhân bởi do ảnh hưởng bởi một số yếu tố và quan trọng nhất chính là dự định KSKD của bản thân người đó (Krueger và các cộng sự, 2000).
Dự định về KSKD có thể được coi là bước đầu tiên trong quá trình KSKD (Mazzarol và cộng sự, 1999; Mohammad Ismail và cộng sự, 2009) bởi vì dự định là tiền đề trực tiếp của hành vi (Ajzen, 1991) và hành vi KSKD không được thực hiện một cách vô thức mà là một hoạt động có chủ đích (Henley, 2007). Như vậy, dự định KSKD là tiền đề trực tiếp của hành vi KSKD. Nhiều tác giả đã tìm hiểu động cơ thúc đẩy thanh niên khởi nghiệp, điển hình như: Nghiên cứu của Reynolds (1997) cho rằng trình độ học vấn và nhu cầu thành đạt, khả năng chấp nhận rủi ro và có xu hướng đổi mới là những yếu tố quyết định đến việc khởi nghiệp của thanh niên trong độ tuổi 25-40. Hai tác giả Kruerger và Brazeal (1994) chỉ ra tiềm năng khởi sự của cá nhân chính là yếu tố quyết định hành vi khởi sự kinh doanh.
Ajzen (1991) đề cập tới thái độ đối với hành vi ở một mức độ mà cá nhân có đánh giá tiêu cực hay tích cực với hành vi đó. Armitage và Conner (2001) cũng cho rằng, thái độ đối với hành vi phản ánh các đánh giá tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân về việc thực hiện một hành vi cụ thể. Ở một góc độ khác, thì Li (2007) định nghĩa trong nghiên cứu của mình về thái độ đối với hành vi như là sự hấp dẫn đối với tự làm chủ. Florin và các đồng nghiệp (2007), tóm tắt từ các kết quả nghiên cứu trước (Gasse, 1985; Robinson và cộng sự, 1991) đã kết luận, thái độ với hành vi có thể được hiểu là khi thái độ của cá nhân tạo thành một mô hình toàn diện và có trật tự cho biết sự thống 8 nhất trong định hướng của người đó đối với hoạt động kinh doanh.
Xavier và cộng sự (2009) định nghĩa thái độ đối với hành vi là mức độ mà cá nhân nhận thức rằng có những cơ hội tốt để khởi sự kinh doanh, hoặc có mối liên kết gắn với vị thế xã hội cao của người làm chủ. Thái độ đối với hành vi KSKD có thể được phát triển và củng cố thông qua các tín hiệu thông tin từ những kinh nghiệm và mô hình mẫu trước đó. Các tín hiệu thông tin bên ngoài (sự sẵn có của các nguồn lực) và bên trong (nhận thức của cá nhân về năng lực và kiến thức nhiệm vụ cụ thể) có thể thúc đẩy sự hiệu quả khởi sự kinh doanh và ngược lại, củng cố thái độ đối với khởi sự kinh doanh (Dell, 2008). Đồng quan điểm đó, Leong (2008) đã tiến hành một nghiên cứu tương tự tại Đại học Mở Malaysia và cho thấy sinh viên càng đánh giá con đường nghề nghiệp tự làm chủ cao bao nhiêu thì dự định trở thành người làm chủ càng cao bấy nhiêu.
Như vậy, cá nhân có thái độ tích cực đối với tự làm chủ, xem khởi sự kinh doanh là phù hợp với mục tiêu tổng thể trong cuộc sống của mình và nhìn thấy cơ hội thực hiện hành động khởi sự kinh doanh, thì rất có khả năng cá nhân đó sẽ hình thành dự định khởi sự kinh doanh (Elfving và cộng sự, 2009). Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ đối với hành vi và dự định khởi sự kinh doanh được nhiều tác giả thực hiện, hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định thái độ đối với hành vi của một cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến dự định khởi sự kinh doanh của cá nhân đó (Kolvereid và Tkachev, 1999; Krueger và cộng sự, 2000; Dohse và Walter, 2010; Paco và cộng sự, 2011). Hay như, Indirti và cộng sự (2010) nhận thấy rằng thái độ, hành vi và kiến thức của sinh viên có xu hướng kích thích ý định của họ và sẵn sàng để bắt đầu một doanh nghiệp mới trong tương lai. Tương tự, Ferreira và cộng sự, (2012) đã chỉ ra rằng mong muốn đạt thành tích cao, sự tự tin, thái độ cá nhân ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh giữa các học sinh trung học.
Ở khía cạnh cấu thành thái độ, Shariff và Saud (2009) cho rằng thái độ của cá nhân liên quan đến dự định KSKD được tạo bởi các yếu tố thúc đẩy và các yếu tố kìm hãm. Họ nhận thấy rằng, các nhân tố như sự thất vọng do không có nhiều cơ hội, sự suy giảm về tình hình kinh tế và sự không hài lòng là các yếu tố thúc đẩy thái độ của cá nhân liên quan đến dự định KSKD. Trong khi đó, các yếu tố kìm hãm thái độ của cá nhân bao gồm các yếu tố như tâm lý ngại thay đổi, thu nhập từ việc làm, khó khăn về thay đổi việc làm trong xã hội… (Kirkwood, 2009). Một nghiên cứu thú vị khác (Nordin, 2005) về điều tra động lực thúc đẩy doanh nhân nữ cho thấy nguồn tài chính là một yếu tố thúc đẩy để bắt đầu một doanh nghiệp.
Ngoài ra, thái độ về tiền bạc và 9 thay đổi của môi trường kinh doanh là những yếu tố quan trọng tác động đến dự định KSKD của sinh viên (Schwarz và cộng sự, 2009). Theo Lim & Teo (2003) thái độ đối với tiền bạc là khi một cá nhân nhìn nhận thu nhập cao sẽ giúp họ có được quyền tự trị, tự do và quyền lực và họ cho rằng thu nhập cao như là thước đo của sự thành công. Ở chiều cạnh khác, chuẩn mực chủ quan đã được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận nhằm tìm ra mối liên quan trong việc dự đoán dự định khởi sự kinh doanh. Một số nhà nghiên cứu cho rằng chuẩn mực chủ quan ảnh hưởng rất ít/ hầu như không có ảnh hưởng đến dự định khởi sự kinh doanh (Autio và cộng sự, (2001); Krueger và cộng sự, 2000; Reynolds và cộng sự, 2004; Linan, 2005; Linan và Chen, 2009) và một số tác giả thì hoàn toàn bỏ qua biến số này khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến dự định khởi sự kinh doanh (Peterman và Kennedy, 2003; Veciana và cộng sự, 2005).
Ngược lại, một số khác lại thấy chuẩn mực chủ quan các tác động quan trọng đến dự định KSKD (Kolvereid và Isaksen, 2006; Yordanova và Tarrazon, 2010,…). Kolvereid (1996a) bằng việc điều tra sinh viên chuyên ngành kinh doanh năm thứ nhất của Na Uy đã cho thấy chuẩn mực chủ quan có mối liên hệ quan trọng trực tiếp với dự định tự làm chủ.