Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự chuyển dịch mạnh mẽ sang nền kinh tế tri thức, giáo dục phổ thông đòi hỏi người học không chỉ tiếp thu tri thức cơ sở mà còn phải hình thành thói quen vận dụng năng lực thực hành để tham gia nghiên cứu, sản xuất trong thực tiễn đời sống. Định hướng này được quán triệt trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cũng như Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, với yêu cầu chuyển từ truyền thụ kiến thức một chiều sang phát triển toàn diện năng lực người học, đa dạng hóa các hình thức học tập ngoài lớp học.
Tuy nhiên, thực tiễn dạy học môn Toán bậc Trung học phổ thông (THPT) vẫn tồn tại nhiều bất cập. Mạch kiến thức về hệ thức lượng trong tam giác ở khối lớp 10 là phần nội dung tiếp nối từ bậc Trung học cơ sở (THCS), nhưng thường khiến học sinh gặp khó khăn do khối lượng công thức lý thuyết nhiều, tính chất trừu tượng cao và thiếu tính liên hệ thực tế. Khảo sát thực trạng cho thấy việc giảng dạy chủ đề này chủ yếu dừng lại ở bài tập thuần túy trên sách vở; học sinh không nhận thấy được mối liên hệ giữa các công thức hình học với việc giải quyết các bài toán đo đạc thực địa. Phương pháp truyền thống làm giảm hứng thú học tập và chưa chú trọng phát triển năng lực giải quyết vấn đề toán học. Để giải quyết mâu thuẫn này, phương pháp dạy học theo dự án (Project-based learning - DHTDA) được lựa chọn nhằm kết nối tri thức hình học với bối cảnh đời sống.
Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về DHTDA, khóa luận xây dựng ba dự án học tập thuộc chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở lớp 10, nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức trọng tâm, nâng cao tính chủ động, sáng tạo và rèn luyện năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu lí luận tổng quan về dạy học theo dự án.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học theo dự án trong môn Toán ở các trường THPT.
- Thiết kế dạy học theo dự án chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở lớp 10.
- Đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đề xuất thông qua thực nghiệm sư phạm.
- Đối tượng nghiên cứu: Cách thức vận dụng DHTDA cho môn Toán trong dạy học chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở lớp 10.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Vận dụng DHTDA cho chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở chương trình Hình học lớp 10.
- Không gian: Nghiên cứu và điều tra thực tế tại một số trường THPT trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng (tiến hành khảo sát thực trạng cụ thể tại Trường THPT FPT).
- Thời gian: Năm học 2022 - 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế để thiết lập khung lý thuyết về năng lực giải quyết vấn đề toán học (GQVĐTH) và phương pháp DHTDA:
- Khung lý thuyết và mô hình tiếp cận: Tác giả kế thừa mô hình 4 bước giải quyết vấn đề của George Pólya (2009) gồm: tìm hiểu vấn đề, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra; cùng cấu trúc 4 năng lực thành phần trong toán học của Wu M. L (2003): năng lực đọc hiểu để lấy dữ liệu từ câu hỏi, năng lực suy luận toán học, năng lực thực hiện tính toán, và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Về mặt phương pháp luận dạy học, đề tài tiếp thu các nghiên cứu về DHTDA của John W. Thomas (1998, 2000), Railback (2002), kết hợp các hướng tiếp cận trong nước của Nguyễn Văn Cường (1997), Đỗ Hương Trà (2007), Nguyễn Thị Diệu Thảo (2007), Phan Anh Tài (2014) và Hà Xuân Thành (2017).
- Khái niệm công cụ: Khóa luận xác lập định nghĩa: "Dạy học theo dự án là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày". Cấu trúc DHTDA gồm các thành tố: giáo viên (người hướng dẫn, tham vấn), học sinh (trung tâm hoạt động), nội dung học tập (gắn với thực tế, tích hợp liên môn), phương tiện dạy học, môi trường, thời gian và bộ câu hỏi định hướng (gồm câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học, câu hỏi nội dung). Tiến trình triển khai gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị dự án, Thực hiện dự án, Báo cáo và đánh giá dự án.
- Phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu, giáo trình, văn kiện đổi mới giáo dục và các công trình khoa học chuyên ngành.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu giáo viên, phân tích hồ sơ lưu trữ (học bạ, sổ ghi chép), quan sát sư phạm giờ học và thực nghiệm sư phạm.
- Nhóm phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức thống kê để thu thập, phân loại, tính tỷ lệ phần trăm và xử lý số liệu điều tra thực trạng cũng như kết quả thực nghiệm sư phạm.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu điều tra thực trạng thu thập từ 20 giáo viên dạy Toán và 110 học sinh khối 10 tại Trường THPT FPT (quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng); dữ liệu kiểm chứng sư phạm từ các lớp thực nghiệm và đối chứng khối 10 trong năm học 2022 - 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về dạy học nêu vấn đề từ thập niên 1960 (với các nghiên cứu của Okon V. tại Ba Lan) đến các mô hình DHTDA hiện đại. Tác giả phân loại DHTDA dựa trên bốn tiêu chí: lĩnh vực hoạt động (giáo dục, môi trường, kinh tế); nội dung chuyên môn (trong một môn học, liên môn, ngoài chương trình); quy mô thời gian (dự án nhỏ 2-6 giờ, dự án trung bình 1 ngày đến 1 tuần hoặc 40 giờ, dự án lớn trên 1 tuần đến nhiều tháng); nhiệm vụ công việc (tìm hiểu, nghiên cứu, thực hành, hỗn hợp, hoạt động xã hội).
Bên cạnh lý luận, tác giả công bố kết quả khảo sát thực trạng giáo dục tại Trường THPT FPT thuộc quận Ngũ Hành Sơn, phản ánh rõ nét rào cản và thái độ đối với môn Toán:
| Đối tượng |
Chỉ số / Nội dung khảo sát |
Tỷ lệ / Số liệu ghi nhận |
| Giáo viên (N = 20) |
Tỷ lệ trả lời không biết cách vận dụng DHTDA vào môn Toán |
45,0% |
|
Lý do chưa vận dụng DHTDA |
Chưa được tập huấn, thiếu tài liệu hướng dẫn, chưa có mô hình mẫu, thiếu thời gian |
|
Tỷ lệ giáo viên sẵn sàng cộng tác nghiên cứu, triển khai DHTDA |
100,0% |
|
Phương pháp dạy học chủ yếu đang dùng |
Thuyết trình, giảng giải, đàm thoại truyền thống |
| Học sinh (N = 110) |
Tỷ lệ học sinh học tập theo phương thức thụ động |
82,3% |
|
Tỷ lệ học sinh thực sự yêu thích môn Toán |
17,0% |
|
Đánh giá môn Toán là môn học trừu tượng, khó hiểu, học vì bắt buộc |
65,0% |
|
Thái độ nghe giảng: Chú ý nghe giảng, tích cực phát biểu xây dựng bài |
25,0% |
|
Thái độ nghe giảng: Chủ yếu nghe giảng, ít khi phát biểu |
60,0% |
|
Thái độ nghe giảng: Không chú ý nghe giảng |
15,0% |
|
Phân loại học lực môn Toán: Giỏi |
22,0% - 24,0% |
|
Phân loại học lực môn Toán: Khá |
58,0% - 60,0% |
|
Phân loại học lực môn Toán: Trung bình |
8,0% - 10,0% |
|
Phân loại học lực môn Toán: Yếu, kém |
Số còn lại |
Khảo sát chỉ ra việc dạy học thực hành đo đạc ngoài trời gần như bị bỏ trống; giáo viên chủ yếu mô phỏng thí nghiệm qua hình vẽ hoặc trình chiếu bài giảng điện tử. Học sinh phụ thuộc vào sách giải, làm bài tập mang tính chất đối phó và thiếu kỹ năng vận dụng công thức hình học vào các bài toán thực tế.
Chương 2. Vận dụng dạy học theo dự án chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở lớp 10
Chương 2 là phần trọng tâm về thiết kế sư phạm. Tác giả đề xuất 5 định hướng tổ chức DHTDA: tập trung vào mục tiêu gắn với chuẩn kiến thức kỹ năng; lấy người học làm trung tâm và phát triển hứng thú; đảm bảo sự phù hợp giữa lý thuyết với thực tiễn; đảm bảo tính khách quan khoa học trong đánh giá; và đảm bảo tính khả thi về thời gian, thiết bị. Đồng thời, khóa luận xác lập 3 tiêu chí chọn nội dung: kết hợp lý thuyết với thực hành; mang tính tích hợp cao (liên môn với Vật lí, Địa lí); và đảm bảo tính khả thi trong điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường.
Tiến trình dạy học được cụ thể hóa qua quy trình 3 giai đoạn:
- Giai đoạn chuẩn bị: Thành lập dự án, chia nhóm học tập theo năng lực đồng đều, bầu nhóm trưởng, phân công nhiệm vụ, phát triển bộ câu hỏi định hướng, hướng dẫn lập kế hoạch thời gian và kiểm duyệt tính khả thi của đề cương.
- Giai đoạn thực hiện: Nhóm học sinh nghiên cứu lý thuyết, tiến hành khảo sát thực địa bằng dụng cụ đo góc, giác kế, thước dây; xử lý số liệu toán học; giáo viên giám sát tiến độ và hỗ trợ kỹ thuật.
- Giai đoạn báo cáo và đánh giá: Báo cáo sản phẩm nghiên cứu (bản vẽ, bài thuyết trình, số liệu đo đạc), trả lời chất vấn trước lớp, thực hiện đánh giá đa chiều (tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng giữa các nhóm và giáo viên đánh giá tổng kết).
Tác giả xây dựng chi tiết 3 dự án học tập gắn liền với chủ đề hệ thức lượng:
- Dự án 1: Đo chiều cao của cây
- Mục tiêu: Nắm vững các công thức hệ thức lượng trong tam giác vuông và tam giác thường (định lý sin, định lý cosin, công thức độ dài đường cao); vận dụng kiến thức để giải bài toán tính chiều cao vật thể không thể đo trực tiếp; rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm, thu thập xử lý số liệu thực địa và kỹ năng báo cáo.
- Bộ câu hỏi định hướng:
- Câu hỏi khái quát: Hệ thức lượng trong tam giác và ứng dụng của chúng?
- Câu hỏi bài học: Tìm hiểu các công thức về hệ thức lượng trong tam giác? Mối liên hệ giữa các công thức về hệ thức lượng trong tam giác? Ứng dụng của hệ thức lượng trong tam giác trong thực tế?
- Hệ thống câu hỏi nội dung:
- Hệ thống các công thức về hệ thức lượng trong tam giác vuông?
- Hệ thống các công thức về hệ thức lượng trong tam giác thường?
- Áp dụng công thức về hệ thức lượng trong tam giác giải bài toán: Cho tam giác $ABC$ có $a=12$, $b=15$, $c=13$. Tính số đo các góc của tam giác $ABC$ và tính độ dài các đường trung tuyến của tam giác.
- Áp dụng công thức giải bài toán thực tế: Để lắp đường dây cao thế từ vị trí $A$ đến vị trí $B$ phải tránh một ngọn núi, người ta nối thẳng đường dây từ vị trí $A$ đến $C$ dài $10\text{ km}$, rồi nối từ $C$ đến $B$ dài $8\text{ km}$. Biết góc tạo bởi hai đoạn dây $AC$ và $CB$ là $75^\circ$. Hỏi so với việc nối thẳng từ $A$ đến $B$ phải tốn thêm bao nhiêu mét dây?
- Bài toán đo đạc gián tiếp: Để đo khoảng cách từ một điểm $A$ trên bờ sông đến gốc cây $C$ trên cù lao giữa sông, người ta chọn một điểm $B$ cùng ở trên bờ với $A$ để xác lập tam giác ngắm góc và tính toán khoảng cách.
- Dự án 2: Đo chiều rộng của một khúc sông
- Mục tiêu và nội dung: Tổ chức cho học sinh giải quyết tình huống đo khoảng cách giữa hai điểm bị ngăn cách bởi chướng ngại vật (dòng sông không thể căng dây đo trực tiếp). Học sinh thiết lập các mốc ngắm trên bờ, dùng giác kế đo các góc nhìn tới mục tiêu bên kia bờ, vận dụng định lý sin và định lý cosin để tính độ dài cạnh tam giác đại diện cho chiều rộng khúc sông.
- Dự án 3: Đo diện tích vườn hoa
- Mục tiêu và nội dung: Vận dụng hệ thống các công thức tính diện tích tam giác (công thức nửa tích hai cạnh với sin góc kẹp, công thức Heron, công thức liên hệ với bán kính đường tròn ngoại tiếp $R$ và nội tiếp $r$). Học sinh thực hiện đo đạc các kích thước thực tế của một khu đất/vườn hoa có hình dạng đa giác trong khuôn viên trường học, phân chia đa giác thành các tam giác nhỏ, tiến hành tính diện tích thành phần và tổng diện tích, sau đó lập báo cáo thiết kế cảnh quan hoặc cải tạo đất.
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết khoa học. Thực nghiệm được tiến hành trên đối tượng học sinh lớp 10 tại trường THPT thuộc địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng trong năm học 2022 - 2023. Tác giả tiến hành tổ chức dạy học theo 3 dự án đã xây dựng ở Chương 2, so sánh đối chiếu giữa lớp thực nghiệm (học theo dự án) và lớp đối chứng (học theo phương pháp truyền thống).
Phân tích kết quả sau thực nghiệm được triển khai trên hai phương diện:
- Đánh giá định lượng: So sánh điểm kiểm tra kiến thức, kỹ năng giải toán hình học và bài toán thực tế; phân tích độ lệch, mức độ phân hóa điểm số giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
- Đánh giá định tính: Ghi nhận sự chuyển biến về thái độ học tập (mức độ yêu thích môn học tăng lên so với mức 17% ban đầu), tính tích cực tương tác, kỹ năng sử dụng giác kế, thước dây và khả năng làm việc cộng tác của học sinh.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Khóa luận làm rõ bức tranh thực trạng dạy học chủ đề hệ thức lượng trong tam giác tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), xác định nguyên nhân cốt lõi khiến 82,3% học sinh học tập thụ động và 65% cảm thấy môn học khô khan, bắt buộc là do phương pháp dạy học thiếu tính gắn kết thực tiễn và thiếu hoạt động trải nghiệm thực hành.
- Xây dựng thành công bộ giáo án và tài liệu hướng dẫn hoàn chỉnh cho 3 dự án học tập thực tế (Đo chiều cao của cây, Đo chiều rộng của một khúc sông, Đo diện tích vườn hoa) với hệ thống câu hỏi định hướng 3 cấp độ và tiêu chí đánh giá năng lực rõ ràng.
- Thực nghiệm sư phạm xác nhận tính khả thi của tiến trình dạy học đề xuất, chứng minh DHTDA giúp học sinh nắm vững kiến thức hệ thức lượng, chuyển hóa công thức toán học thành công cụ đo đạc thực tế và rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm.
- Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Đối với giáo viên: Cần chủ động chuyển đổi vai trò từ người truyền thụ sang người hướng dẫn, điều phối; đổi mới khâu soạn kế hoạch bài dạy theo hướng tích hợp tình huống thực tế; phối hợp linh hoạt giữa quỹ thời gian trên lớp và hoạt động ngoại khóa; thiết lập các công cụ đánh giá đa dạng (bài kiểm tra viết, sổ ghi chép, sản phẩm thực tế, đánh giá đồng đẳng).
- Đối với cán bộ quản lý và nhà trường: Cần tổ chức các đợt tập huấn chuyên sâu về quy trình DHTDA cho giáo viên toán (khắc phục tình trạng 45% giáo viên chưa biết cách triển khai); đầu tư mua sắm dụng cụ thực hành cơ bản (thước cuộn, giác kế đo góc); kết hợp với Đoàn trường và phụ huynh học sinh để quản lý an toàn trong các tiết học đo đạc ngoài hiện trường.
- Đóng góp mới của đề tài:
- Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về DHTDA và năng lực GQVĐTH trong môn Toán lớp 10 theo định hướng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
- Về mặt thực tiễn: Đề tài giải quyết khoảng trống ứng dụng cụ thể trong phương pháp dạy học toán. Trong khi các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào lớp 11 (Phan Anh Tài, 2014), ban cơ bản chung chung (Nguyễn Đắc Thắng, 2012) hoặc bất đẳng thức đại số (Trịnh Khánh Linh, 2013), thì khóa luận này đã thiết kế chi tiết quy trình thực hành đo đạc thực địa chuyên biệt cho chủ đề hệ thức lượng trong tam giác ở lớp 10.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực trạng còn hẹp, tập trung chủ yếu tại một trường đặc thù là Trường THPT FPT thuộc quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, nên mức độ bao quát về điều kiện cơ sở vật chất đối với các trường công lập hoặc trường vùng ven chưa thật toàn diện.
- Dạy học theo dự án đòi hỏi nhiều thời gian và kinh phí tổ chức; trong khi đó, khung phân phối chương trình môn Toán lớp 10 hiện hành tương đối chặt chẽ, tạo áp lực cho giáo viên khi phải cân đối giữa tiến độ bài học trên lớp và các giờ thực hành thực địa.
- Khóa luận mới chỉ tập trung xử lý một mạch nội dung hẹp là hệ thức lượng trong tam giác, chưa thể mở rộng sang toàn bộ chương trình Hình học lớp 10.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm trên nhiều nhóm trường THPT với điều kiện dạy học và đối tượng học sinh có học lực đa dạng hơn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Nghiên cứu thiết kế các dự án học tập tích hợp cho các chủ đề khác trong môn Toán THPT (như phương pháp tọa độ trong mặt phẳng, vectơ, thống kê hoặc lượng giác).
- Ứng dụng thêm công nghệ thông tin và các phần mềm hình học động (GeoGebra), ứng dụng đo đạc trên điện thoại thông minh để hỗ trợ học sinh thu thập và xử lý số liệu đo đạc thực địa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giáo viên giảng dạy môn Toán tại các trường THPT: Tài liệu cung cấp mẫu kế hoạch bài dạy chi tiết, bộ câu hỏi định hướng và phương án tổ chức đo đạc thực tế có thể áp dụng trực tiếp cho các tiết thực hành chuyên đề Toán 10.
- Sinh viên ngành Sư phạm Toán học: Là tài liệu tham khảo cụ thể về cách thức triển khai đề tài khóa luận tốt nghiệp theo hướng nghiên cứu lý luận kết hợp khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm; phương pháp chuyển hóa kiến thức toán thuần túy thành chuỗi hoạt động học tập thực nghiệm.
- Tổ chuyên môn và cán bộ quản lý giáo dục: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch giáo dục môn học linh hoạt, tích hợp các hoạt động trải nghiệm thực tế vào phân phối chương trình bộ môn.
- Các nội dung đáng tham khảo nhất:
- Quy trình tổ chức 3 giai đoạn của DHTDA được cụ thể hóa cho môn Toán tại mục 2.3.
- Hệ thống 3 dự án học tập đo đạc thực địa (Đo chiều cao cây, Đo chiều rộng khúc sông, Đo diện tích vườn hoa) với mục tiêu, bảng phân công nhiệm vụ và hệ thống bài toán thực tế chi tiết ở Chương 2.
- Số liệu khảo sát thực trạng giáo viên và học sinh về rào cản dạy học môn Toán tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khóa luận đưa ra định nghĩa về dạy học theo dự án như thế nào?
Dựa trên việc phân tích quan điểm của các tác giả đi trước (Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Thị Diệu Thảo, Đỗ Hương Trà), tác giả khóa luận xây dựng định nghĩa: Dạy học theo dự án là cách thức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu, trình bày.
2. Khảo sát tại Trường THPT FPT phản ánh khó khăn lớn nhất của giáo viên khi triển khai DHTDA là gì?
Khảo sát 20 giáo viên cho thấy có 45% giáo viên thừa nhận không biết cách vận dụng DHTDA do chưa từng được tập huấn, thiếu tài liệu hướng dẫn và chưa có mô hình mẫu cụ thể. Ngoài ra, rào cản về thời lượng tiết học hạn chế, áp lực phân phối chương trình và sự thiếu thốn về trang thiết bị đo đạc thực hành cũng là những trở ngại lớn. Tuy nhiên, 100% giáo viên được hỏi đều bày tỏ sự sẵn lòng cộng tác nghiên cứu và triển khai phương pháp này.
3. Tình trạng học tập môn Toán của học sinh lớp 10 trước khi áp dụng dự án có đặc điểm gì nổi bật?
Theo kết quả điều tra trên 110 học sinh lớp 10, có 82,3% học sinh có thói quen học tập thụ động, phụ thuộc sách giải; 65% học sinh đánh giá môn Toán là môn học trừu tượng, khó hiểu và học vì lý do bắt buộc; chỉ có 17% học sinh thể hiện thái độ yêu thích môn Toán; và chỉ có 25% học sinh thường xuyên chú ý nghe giảng kết hợp tích cực phát biểu xây dựng bài.
4. Ba dự án học tập được xây dựng trong Chương 2 giải quyết những bài toán thực tiễn nào?
Ba dự án gồm:
- Dự án 1 (Đo chiều cao của cây): Giải quyết bài toán đo chiều cao của vật thể thẳng đứng trong điều kiện không thể leo lên đỉnh để đo trực tiếp, vận dụng các hệ thức trong tam giác vuông và tam giác thường.
- Dự án 2 (Đo chiều rộng của một khúc sông): Giải quyết bài toán đo khoảng cách giữa hai vị trí bị ngăn cách bởi chướng ngại vật mặt nước, vận dụng định lý sin và cosin để giải tam giác gián tiếp từ các mốc ngắm trên bờ.
- Dự án 3 (Đo diện tích vườn hoa): Giải quyết bài toán đo đạc và tính diện tích khu đất đa giác thực tế trong khuôn viên, vận dụng hệ thống công thức diện tích tam giác (Heron, công thức sin, bán kính $R, r$).
5. Bộ câu hỏi định hướng trong Dự án 1 được cấu trúc theo các cấp độ nào?
Bộ câu hỏi định hướng của Dự án 1 gồm 3 cấp độ:
- Câu hỏi khái quát: Đặt vấn đề rộng mang tính định hướng tổng thể ("Hệ thức lượng trong tam giác và ứng dụng của chúng?").
- Câu hỏi bài học: Đi sâu vào bản chất nội dung môn học ("Tìm hiểu các công thức về hệ thức lượng trong tam giác? Mối liên hệ giữa các công thức? Ứng dụng thực tế?").
- Câu hỏi nội dung: 5 bài tập và câu hỏi toán học cụ thể, gồm hệ thống công thức tam giác vuông, tam giác thường; tính góc và đường trung tuyến tam giác có $a=12, b=15, c=13$; tính độ dài dây điện cao thế tránh núi tạo góc $75^\circ$; và bài toán đo khoảng cách từ bờ sông đến cù lao giữa dòng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trung Vĩnh đã hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc tổng hợp hệ thống cơ sở lý luận về dạy học theo dự án và năng lực giải quyết vấn đề toán học. Khảo sát thực tiễn tại trường THPT thuộc quận Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) đã phản ánh chân thực những rào cản về phương pháp giảng dạy truyền thống và sự thụ động của học sinh khi tiếp cận kiến thức hình học. Đề tài đóng góp một giải pháp sư phạm cụ thể với 3 dự án học tập đo đạc thực tế hoàn chỉnh cho chủ đề hệ thức lượng trong tam giác lớp 10, đồng thời khẳng định tính khả thi và hiệu quả của phương pháp này qua kết quả thực nghiệm sư phạm trong năm học 2022 - 2023. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho giáo viên phổ thông và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Toán trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.