CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Vai trò của việc thành lập DN đối với nền kinh tế Từ lâu, vấn đề khởi tạo DN đã được khẳng định là có vai trò rất quan trọng góp phần tăng trưởng kinh tế đối với các quốc gia, vấn đề này được nhắc đến rất nhiều và chứng minh trong các nghiên cứu từ trước đến nay (Wennekers và Thurik, 1999; Carree và Thurik, 2003; Fritsch và Mueller, 2004; Verzat và Bachelet, 2006; Sobel và King, 2008; Westlund và Olsson, 2011). Theo Carree và Thurik (2010, trang 578) “hoạt động khởi tạo DN trong nền kinh tế tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập DN cao thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao”. Theo Westlund và Olsson (2011) các công ty khởi nghiệp tác động trực tiếp đến việc tạo ra việc làm mới, tạo ra sự sản xuất mới thông qua đó góp phần tăng năng suất khu vực.
Bên cạnh đó, khởi tạo DN còn góp phần tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Theo Fritsch và Mueller (2004), khởi tạo DN sẽ có 4 tác động đến nền kinh tế bao gồm: (1) các DN khởi sự buộc phải thực hiện việc kinh doanh đạt hiệu quả nên sẽ mang lại hiệu suất cao trong nền kinh tế; (2) các DN mới thành lập sẽ góp phần thay đổi cấu trúc trong DN theo hướng hiệu quả cao; (3) việc khởi tạo DN sẽ tạo ra sự cải tiến tốt trong việc sản xuất; và (4) điều này còn thúc đẩy việc đa dạng hoá sản phẩm. Từ những nghiên cứu trên ta thấy, đối với nền kinh tế thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng, việc khởi tạo DN có một tầm quan trọng rất lớn đó là: Thứ nhất, việc khởi tạo DN sẽ thúc đẩy quá trình tiếp cận và phát triển các tri thức mới, những tiến bộ về khoa học công nghệ, đặc biệt là ở loại hình khởi nghiệp tận dụng cơ hội. Các DN trong lĩnh vực này sẽ cố gắng tìm kiếm những ý tưởng kinh doanh mới, tiếp thu những tri thức trên thế giới để áp dụng cho mình qua đó họ sẽ nâng cao được sự hiểu biết và kiến thức.
Chính vì vậy, khởi tạo DN sẽ tạo ra những DN mới có tác động tích cực trong việc tăng năng suất cho xã hội. Điều này góp phần phát triển kinh tế cho địa phương nói riêng và của quốc gia nói chung. Thứ hai, khởi tạo 2 DN góp phần gia tăng số lượng các DN mới trong ngành do đó sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh và điều này đòi hỏi các DN phải ra sức đổi mới những ý tưởng, cải tiến kỹ thuật sản xuất. Việc đó sẽ giúp người tiêu dùng trên thị trường được đáp ứng nhu cầu một cách tốt hơn nhờ những sản phẩm ngày càng đạt chất lượng cao hơn.
Thứ ba, khởi tạo DN đồng nghĩa với việc nhiều DN mới được thành lập nên sẽ tạo ra nhiều việc làm. Theo các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các DN vừa và nhỏ đã tạo ra hàng triệu việc làm trên thế giới (Kelley và cộng sự, 2011). Theo đánh giá của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tháng 8/2015: “Khu vực DN vừa và nhỏ chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Con số thống kê cho hay, DN vừa và nhỏ chiếm trên 97% tổng số DN cả nước, đóng góp 50% GDP, 33% thu ngân sách nhà nước tạo ra 62% việc làm cho người lao động, đóng góp 49% vào việc tạo giá trị gia tăng cho nền kinh tế”.
Đặc biệt, ở các nước đang phát triển khởi tạo DN góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giảm nghèo đói. Các DN này ngoài nhiệm vụ tạo ra nhiều việc làm, họ còn đóng góp thuế cho chính phủ, cải thiện cơ sở hạ tầng. Như vậy, việc có nhiều DN mới thành lập sẽ mang lại sự đóng góp to lớn cho nền kinh tế của một quốc gia. Do vậy, trong bất cứ giai đoạn nào thì việc thúc đẩy các DN thành lập luôn luôn là một điều hết sức cần thiết.
Bối cảnh thực tiễn về hoạt động khởi tạo DN tại Việt Nam Ở Việt Nam, vấn đề khởi tạo DN đang được Đảng và Nhà nước chú trọng thông qua các chính sách như: “Quyết định 844/QĐ-TTg ngày 18/05/2016 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”; “Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30/6/2017 về đề án Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017-2025”; “Đề án 1665/QĐ-TTg được Thủ tướng chính phủ ký ban hành ngày 30/10/2017 về việc hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp”; “Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết về đầu tư cho DN nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo”. Bên cạnh đó, một số quy định hỗ trợ DN về chính sách thuế, chính sách tín dụng nhà nước, chính sách tài chính đã được ban 3 hành và kèm theo là mô hình vườn ươm DN để thúc đẩy và hỗ trợ những DN khởi sự kinh doanh. Như vậy, nhìn chung Việt Nam cũng có rất nhiều chính sách nhằm thu hút các DN tham gia khởi sự kinh doanh. Tuy nhiên, theo GEM (2015, trang 18), “Tỷ lệ người có ý định khởi sự kinh doanh ở Việt Nam năm 2015 là 22,3%, đứng thứ 23 trong số 60 quốc gia, cao hơn tỷ lệ 18,2% năm 2014 và gần bằng mức 24,1% của năm 2013”.
Báo cáo của GEM (2018, trang 3) cho thấy “năm 2017 tỷ lệ người trưởng thành ở Việt Nam có ý định khởi sự kinh doanh đã tăng lên 25%”. Tuy nhiên cũng theo báo cáo của GEM (2018), tỷ lệ này vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước cùng giai đoạn phát triển với Việt Nam, các quốc gia có nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào là 36,5%. Tại đề án “Thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2019 – 2022” của Đoàn TNCS TP. HCM (2019, trang 3) đã báo cáo “theo khảo sát về tinh thần khởi nghiệp tại 45 quốc gia với 50.861 người từ 14 tuổi trở lên được công bố bởi sự phối hợp thực hiện của Tập đoàn Amway, Đại học Technische Universitat Munchen (TUM) và công ty nghiên cứu thị trường GFK năm 2018 thì Việt Nam có thái độ rất tích cực đối với việc khởi tạo DN”.
Về số lượng DN thành lập mới có xu hướng tăng lên trong giai đoạn 2015 đến 2022, tuy nhiên, tỷ lệ này lại sụt giảm trong năm 2021 do tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn ra kéo dài và kinh tế khó khăn sau đại dịch.1: Biểu đồ số lượng DN đăng ký thành lập giai đoạn 2011 – 2022 Nguồn: Kết quả tổng hợp từ báo cáo từng năm của Cục Quản lý đăng ký kinh doanh – Bộ Khoa học và Đầu tư 4 Ngoài ra, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (29/12/2021) năm 2021 cả nước có 116,8 nghìn DN đăng ký thành lập mới trong khi số lượng DN tạm ngừng kinh doanh, chờ giải thể và giải thể là khoảng 119,8 nghìn DN. Tiếp đến, theo báo cáo của Tổng cục thống kê năm 2022 có 143.200 DN rút lui khỏi thị trường. Với tỷ lệ thống kê này cho thấy số lượng DN tạm dừng hoạt động hoặc giải thể tương đương tỷ lệ thành lập mới những năm qua tại Việt Nam. Bên cạnh đó, theo báo cáo về tình hình lao động việc làm cả nước quý IV và năm 2021 của Tổng cục thống kê thì số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý IV năm 2021 là hơn 1,6 triệu người.
Như vậy, Nhà nước đã có những chính sách thúc đẩy tinh thần khởi tạo DN và thái độ của người Việt Nam về vấn đề khởi tạo DN đã có sự cải thiện. Tuy nhiên, theo đánh giá chung việc khởi tạo DN hiện nay còn gặp nhiều khó khăn vì quá trình khởi tạo DN chịu tác động bởi một số yếu tố như nguồn lực, môi trường khởi tạo DN. khiến các nhà khởi tạo DN gặp nhiều lúng túng (Nguyễn Thị Thanh Thắm và Đặng Thị Ngọc Ánh, 2021; Tạp chí tài chính online, 2020). Số lượng DN thành lập mới của Việt Nam chưa nhiều so với các nước trong khu vực.
Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2019) đã đưa ra kết quả khảo sát tại cuộc hội thảo về “Hoàn thiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp” cho thấy chưa đến 10% DN tại Việt Nam khởi nghiệp thành công. Do đó, cần có thêm những nghiên cứu để đưa ra các chính sách thúc đẩy việc tham gia vào hoạt động khởi tạo DN. Bối cảnh lý thuyết Qua nhiều năm, tinh thần khởi nghiệp đã thu hút rất nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trên thế giới, đặc biệt là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định kinh doanh của một cá nhân (Ajzen và Fishbein, 1977; Sheppard và cộng sự, 1988; Arasteh và cộng sự, 2012). Lee và cộng sự (2006, trang 351) cho rằng “tinh thần khởi nghiệp được chú trọng ở nhiều quốc gia và được xem là cách thức để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm”.
Sobel và King (2008, trang 429) nhận định “khởi tạo DN là chìa khóa quan trọng để tăng trưởng kinh tế, vì vậy việc thúc đẩy giới trẻ khởi tạo DN là một trong những ưu tiên hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách”. Ngoài ra, các DN nhỏ, mới thành lập sẽ có đóng góp không hề nhỏ vào 5 sự phát triển của nền kinh tế địa phương, nền kinh tế khu vực, nền kinh tế của đất nước cũng như tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội trong tương lai (Wennekers và Thurik, 1999; Carree và Thurik, 2003; Fritsch và Mueller, 2004; Westlund và Olsson, 2011). Mặc dù khởi tạo DN rất quan trọng đối với nền kinh tế nhưng việc thiết lập các điều kiện cơ bản để bắt đầu kinh doanh tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, cả về mặt quản lý Nhà nước và tinh thần của các doanh nhân. Vì vậy, việc thúc đẩy tiếp tục ý định khởi sự kinh doanh để dẫn đến hành vi khởi tạo DN là một yêu cầu cấp bách mà các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và những nhà hoạch định chính sách đang cần phải xem xét thực hiện.
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về khởi tạo DN nhưng đa phần tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự kinh doanh.