Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khởi tạo doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế, kích thích chuyển dịch cơ cấu, tạo việc làm và gia tăng năng suất khu vực (Carree và Thurik, 2010; Westlund và Olsson, 2011; Fritsch và Mueller, 2004). Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế thúc đẩy hoạt động này, tiêu biểu như Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/05/2016 phê duyệt đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025; Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30/06/2017 về đề án Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp giai đoạn 2017–2025; Đề án số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp; cùng Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 và Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018.
Dù chính sách hỗ trợ phát triển mạnh, số liệu thực tiễn cho thấy tỷ lệ khởi nghiệp thành công tại Việt Nam vẫn ở mức thấp. Báo cáo của Global Entrepreneurship Monitor (GEM, 2018) ghi nhận tỷ lệ người trưởng thành tại Việt Nam có ý định khởi sự kinh doanh năm 2017 đạt 25%, thấp hơn mức trung bình 36,5% của nhóm quốc gia có nền kinh tế dựa vào yếu tố đầu vào. Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2021, cả nước có 116,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới nhưng có tới 119,8 nghìn đơn vị giải thể hoặc tạm ngừng hoạt động; sang năm 2022 có 143.200 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI, 2019) cho thấy chưa đầy 10% doanh nghiệp khởi nghiệp thành công.
Về mặt học thuật, phần lớn công trình trong và ngoài nước tập trung vào ý định khởi sự kinh doanh (entrepreneurial intention) của sinh viên tại một thời điểm nhất định mà ít xem xét hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp (nascent behavior). Khoảng trống nghiên cứu lớn là sự thiếu vắng các mô hình kiểm chứng sự chuyển biến từ ý định sang hành vi thực tế theo chuỗi thời gian, cũng như việc tích hợp đồng thời các yếu tố nhận thức cá nhân, vốn xã hội và vai trò điều tiết của giáo dục khởi nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích và đo lường các nhân tố góp phần thúc đẩy hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Kiểm định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp của những nhà khởi tạo doanh nghiệp tại vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
- Kiểm định vai trò điều tiết của việc được đào tạo về khởi nghiệp lên mối quan hệ giữa ý định và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp của những nhà khởi tạo doanh nghiệp tại ĐNB và ĐBSCL.
- Đề xuất các hàm ý chính sách và quản trị đối với các bên liên quan nhằm thúc đẩy hoạt động khởi tạo doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu trên, luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Những yếu tố thuộc về cá nhân của một người (khả năng nhận diện cơ hội và động cơ), môi trường (nguồn vốn, vốn xã hội) có mối quan hệ như thế nào đến ý định khởi tạo doanh nghiệp? Những yếu tố này có tác động đến hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp hay không?
- Việc được đào tạo về khởi nghiệp có đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa ý định và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp của những nhà khởi tạo doanh nghiệp tại ĐBSCL và ĐNB hay không?
- Kết quả nghiên cứu cho phép rút ra những hàm ý nào đối với vấn đề thúc đẩy hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố góp phần thúc đẩy hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp. Đối tượng khảo sát là những người có ý định khởi tạo doanh nghiệp và những người đang thực hiện hành vi khởi tạo doanh nghiệp.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các khái niệm ý định khởi tạo doanh nghiệp, hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp, cùng các nhóm nhân tố: khả năng nhận diện cơ hội, các thành phần của động cơ (nhu cầu thành tích, nhu cầu độc lập, nhu cầu tài chính, để lại di sản cho con cái/gia đình), nguồn vốn và vốn xã hội (vốn cấu trúc, vốn quan hệ, vốn nhận thức).
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại hai khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam là vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng mẫu cao nhất.
- Phạm vi thời gian: Luận án triển khai từ năm 2017 đến năm 2023. Giai đoạn khảo sát sơ bộ diễn ra năm 2017; khảo sát định lượng chính thức giai đoạn 1 từ năm 2018 đến cuối năm 2019; khảo sát định lượng chính thức giai đoạn 2 thu thập vào đầu năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây
Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước theo hai nhóm chủ đề chính:
Nhóm nghiên cứu về ý định khởi tạo doanh nghiệp:
Các công trình quốc tế được phân tích bao gồm nghiên cứu tại các nước phát triển như Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Anh (Fitzsimmons và Douglas, 2005; Van Gelderen và cộng sự, 2008; Feola và cộng sự, 2017), Hoa Kỳ (Sequeira và cộng sự, 2007); các nền kinh tế chuyển đổi như Romania (Sasu và Sasu, 2015), Ukraine (Matlay và cộng sự, 2012; Solesvik, 2013); và các quốc gia đang phát triển như Malaysia (Ambad và Damit, 2016), Indonesia (Utami, 2017). Tại Việt Nam, hướng nghiên cứu này ghi nhận các công trình của Bùi Huỳnh Tuấn Duy và cộng sự (2011), Nguyễn Thu Thủy (2012), Phan Anh Tú và Giang Thị Cẩm Tiên (2015), Đỗ Thị Hoa Liên (2016), Hà Kiên Tân (2019), Trần Nha Ghi (2019). Các tác giả này chủ yếu ứng dụng mô hình Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) để đo lường ý định của sinh viên các trường đại học thông qua thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.
Nhóm nghiên cứu về hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp (nascent behavior):
Qua rà soát từ Scopus, ScienceDirect và Google Scholar giai đoạn từ năm 2000 đến tháng 10/2022, tác giả tổng hợp được 18 nghiên cứu liên quan trực tiếp (17 công trình quốc tế và 01 công trình tại Việt Nam):
- Honig và Davidsson (2000, 2003): Sàng lọc 30.427 hộ dân tại Thụy Điển, theo dõi 608 cá nhân có ý định trong 18 tháng để tìm ra 308 người thực sự hành động; kết luận vốn xã hội tác động mạnh đến hành vi, trong khi vốn con người chỉ hỗ trợ mức độ thấp.
- Liao và Welsch (2003): Khảo sát 462 doanh nhân non trẻ, chia vốn xã hội thành 3 khía cạnh (cấu trúc, quan hệ, nhận thức) để đánh giá tác động đến khát vọng tăng trưởng.
- Sequeira và cộng sự (2007): Nghiên cứu trên 389 cá nhân tại Hoa Kỳ, chỉ ra quan hệ xã hội thúc đẩy ý định và hành vi nhưng đối tượng khảo sát đã có ý định trước đó 1 năm, chưa theo dõi đồng thời sự biến chuyển.
- McGee và cộng sự (2009): Sử dụng mẫu 303 người, chuẩn hóa thang đo năng lực bản thân qua 5 khía cạnh và kiểm định tác động tích cực đến hành vi khởi nghiệp.
- Nishimura và Tristán (2011): Khai thác dữ liệu GEM tại Peru, ứng dụng TPB để dự báo hành vi thay vì ý định.
- Renko, Kroeck và Bullough (2012): Điều tra 1.392 cá nhân qua 4 thời điểm dựa trên lý thuyết kỳ vọng của Vroom; nhận thấy nhu cầu tài chính thúc đẩy ý định nhưng khi bước vào giai đoạn hành động thì cơ hội học hỏi và phát triển bản thân lại giữ vai trò chi phối.
- Honig và Karlsson (2013): So sánh 362 doanh nhân Thụy Điển và 347 doanh nhân Hoa Kỳ về nhận thức thể chế đối với việc lập kế hoạch kinh doanh.
- Abebe, Gangadharan và Sutanonpaiboon (2014): Phân tích nhận thức hỗ trợ xã hội và địa vị xã hội trên 170 cá nhân tại Hoa Kỳ.
- Lanero và Vazquez (2015): Ứng dụng lý thuyết SCCT trên 400 sinh viên Tây Ban Nha bằng kỹ thuật PLS-SEM.
- Brinckmann và Kim (2015): Sử dụng bộ dữ liệu PSED II gồm 479 doanh nghiệp một chủ sở hữu tại Hoa Kỳ, dùng mô hình logit phân tích tác động của năng lực bản thân và sự kiên trì.
- Shirokova, Osiyevskyy và Bogatyreva (2016): Khảo sát 70.164 sinh viên đại học quốc tế, phát hiện khoảng cách giữa ý định và hành vi bị chi phối bởi yếu tố gia đình, độ tuổi, giới tính và môi trường thể chế.
- Nguyễn Quang Thu và cộng sự (2017): Khảo sát 248 sinh viên tại TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, chỉ ra yếu tố gắn kết giữ vai trò trung gian giữa ý định và hành vi.
- Mwiya, Wang, Kaulungombe và Kayekesi (2019): Nghiên cứu 294 sinh viên tại Zambia, kiểm định vai trò trung gian của ý định giữa năng lực bản thân và hành vi.
- Mahmood, Al Mamun, Ahmad và Ibrahim (2019): Khảo sát 310 cá nhân thế hệ thiên niên kỷ Asnaf tại Malaysia bằng PLS-SEM.
- Li, Murad, Ashraf, Syed và Riaz (2020): Khảo sát 400 nhà quản lý tại Pakistan, xác định định hướng mục tiêu làm trung gian giữa khám phá, tạo cơ hội và hành vi.
- Belchior và Lyons (2021): Nghiên cứu dọc 5 năm trên 1.149 sinh viên Bồ Đào Nha (chọn lọc 242 sinh viên), kết luận năng lực bản thân và kỳ vọng kết quả tác động trực tiếp đến ý định, ý định tác động đến hành vi, nhưng năng lực không tác động trực tiếp đến hành vi.
- Murad, Ashraf, Syed, Munir và Butt (2022): Khảo sát 455 sinh viên tại Pakistan bằng PLS-SEM về vai trò bản sắc xã hội và năng lực bản thân.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án giải quyết 4 khoảng trống học thuật:
- Đa số nghiên cứu trước đo lường ý định và hành vi tại cùng một thời điểm khảo sát cắt ngang (cross-sectional), gây khó khăn trong việc xác định quan hệ nhân quả. Luận án thực hiện khảo sát 2 giai đoạn trên cùng một đối tượng với khoảng cách 1 năm nhằm đo lường sự dịch chuyển thực tế.
- Thiếu sự tích hợp đa chiều các yếu tố nhận thức cá nhân (khả năng nhận diện cơ hội, các thành phần cụ thể của động cơ) và môi trường (nguồn vốn tài chính, vốn xã hội 3 chiều cạnh: cấu trúc, quan hệ, nhận thức) trong cùng một khung phân tích.
- Vai trò điều tiết của giáo dục khởi nghiệp (tham gia khóa học khởi tạo doanh nghiệp) đối với mối quan hệ từ ý định đến hành vi chưa được kiểm chứng đầy đủ trong các nghiên cứu trước.
- Thuật ngữ "doanh nhân non trẻ" và "hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp" chưa được nghiên cứu hệ thống tại bối cảnh thực tiễn Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
Luận án kế thừa và phối hợp các khung lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết hành động hợp lý (TRA - Theory of Reasoned Action) của Ajzen và Fishbein (1975, 1977): Giải thích xu hướng hành vi bắt nguồn từ thái độ và chuẩn chủ quan.
- Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of Planned Behavior) của Ajzen (1991): Bổ sung yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình TRA.
- Lý thuyết thay đổi hành vi (COM-B) của Michie và cộng sự: Xác định sự tương tác giữa khả năng (Capability), cơ hội (Opportunity) và động cơ (Motivation) tạo nên hành vi.
- Mô hình sự kiện khởi nghiệp (EEM - Event Entrepreneur Model) của Shapero và Sokol (1982): Giải thích sự hình thành dự án kinh doanh từ mong muốn và tính khả thi.
- Lý thuyết các giai đoạn hành động của Heckhausen và Gollwitzer (1987), Gollwitzer và Keller (2016): Phân biệt giai đoạn cân nhắc hình thành ý định và giai đoạn triển khai hành động.
- Lý thuyết kỳ vọng của Vroom (1964): Giải thích động cơ thúc đẩy hành vi dựa trên kết quả mong đợi.
- Lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura (1977) và Lý thuyết nghề nghiệp nhận thức xã hội (SCCT) của Lent, Brown và Hackett (1994, 2000).
- Mô hình Triple Helix: Đề cập đến mối liên kết giữa Nhà nước, Trường đại học và Doanh nghiệp.
Các khái niệm được xác định trong luận án:
- Khởi tạo doanh nghiệp (business creation): Việc tự lập một cơ sở kinh doanh, tự làm chủ thay vì đi làm thuê, chấp nhận rủi ro và tìm kiếm cơ hội thị trường (Kolvereid, 1996; Liñán và Chen, 2006; Shapero và Sokol, 1982).
- Doanh nhân non trẻ (nascent entrepreneur): Cá nhân đang tích cực tiến hành các hoạt động chuẩn bị cần thiết để thành lập doanh nghiệp mới trong vòng 12 tháng qua nhưng chưa có dòng tiền mặt ròng dương (Reynolds và cộng sự, 2004b; Aldrich và Martinez, 2001; Gartner và Carter, 2003).
- Ý định khởi tạo doanh nghiệp (entrepreneurial intention): Trạng thái nhận thức hướng sự chú ý và cam kết của cá nhân vào việc thành lập doanh nghiệp mới (Bird và Jellinek, 1989; Souitaris và cộng sự, 2007).
- Hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp (nascent behavior): Chuỗi hành động cụ thể diễn ra sau khi có ý định nhằm tạo dựng và chính thức khai sinh một doanh nghiệp (Sequeira và cộng sự, 2007; McGee và cộng sự, 2009; Williams Middleton, 2010).
Thiết kế nghiên cứu và quy trình thực hiện
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng qua hai bước: sơ bộ và chính thức:
Quy trình nghiên cứu tổng quát:
Nghiên cứu sơ bộ định tính (Phỏng vấn 9 chuyên gia hiệu chỉnh thang đo)
Nghiên cứu sơ bộ định lượng (Khảo sát thử nghiệm n = 100, kiểm định Alpha & EFA)
Nghiên cứu chính thức Giai đoạn 1 (Khảo sát ý định: n = 1.732 sinh viên năm cuối)
[Phân tích Cronbach's Alpha, EFA, Hồi quy đa biến]
Nghiên cứu chính thức Giai đoạn 2 (Khảo sát hành vi sau 1 năm: n = 597 đối tượng)
[Phân tích Cronbach's Alpha, CFA, Mô hình SEM, Bootstrap, Kiểm định Welch/ANOVA]
Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu
- Nghiên cứu sơ bộ định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu 9 chuyên gia nhằm điều chỉnh các thang đo lý thuyết phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam (các bảng từ Bảng 3.8 đến Bảng 3.13).
- Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Khảo sát 100 mẫu nhằm đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để hiệu chỉnh thang đo (Bảng 3.14 đến Bảng 3.32).
- Nghiên cứu chính thức giai đoạn 1 (Giai đoạn ý định): Khảo sát 1.732 sinh viên năm cuối tại các trường đại học thuộc khu vực ĐNB và ĐBSCL theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Kỹ thuật phân tích gồm Cronbach's Alpha, EFA và hồi quy tuyến tính đa biến nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định.
- Nghiên cứu chính thức giai đoạn 2 (Giai đoạn hành vi): Sau 1 năm, tiến hành khảo sát lại chính những cá nhân từ giai đoạn 1, thu về 597 phản hồi hợp lệ. Dữ liệu được phân tích bằng Cronbach's Alpha, EFA, phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định ước lượng bằng kỹ thuật Bootstrap, phân tích kiểm định Welch (Robust Tests of Equality of Means), kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Test of Homogeneity of Variances) và phân tích vai trò biến điều tiết của việc tham gia khóa học khởi nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 1 thiết lập cơ sở thực tiễn và tính cấp thiết của đề tài. Tác giả luận giải vai trò của việc thành lập doanh nghiệp đối với nền kinh tế: kích thích đổi mới công nghệ, gia tăng cạnh tranh, tạo việc làm và nâng cao năng suất xã hội. Tác giả tổng kết các văn bản chính sách của Chính phủ Việt Nam giai đoạn 2016–2018 và đối chiếu với số liệu thống kê thực tế về số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường giai đoạn 2021–2022 (Hình 1.1). Chương này điểm qua 18 nghiên cứu quốc tế và trong nước về hành vi khởi nghiệp non trẻ, chỉ ra khoảng trống về phương pháp nghiên cứu theo chuỗi thời gian, từ đó xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi không gian (ĐNB và ĐBSCL) và thời gian (2017–2023).
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về khởi tạo doanh nghiệp, doanh nhân non trẻ, ý định khởi tạo doanh nghiệp và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp. Tác giả phân tích sâu 8 khung lý thuyết nền tảng: TRA, TPB, COM-B, EEM, lý thuyết các giai đoạn hành động, lý thuyết kỳ vọng Vroom, mô hình Triple Helix và lý thuyết nhận thức xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết (Hình 2.10) với các mối quan hệ:
- Nhóm xu hướng nhận thức cá nhân: Khả năng nhận diện cơ hội, Nhu cầu về thành tích, Nhu cầu độc lập, Nhu cầu tài chính, Để lại di sản cho con cái/gia đình tác động đến Ý định khởi tạo doanh nghiệp và Hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp.
- Nhóm môi trường: Nguồn vốn tài chính và Vốn xã hội (Vốn cấu trúc, Vốn quan hệ, Vốn nhận thức) tác động đến Ý định và Hành vi.
- Ý định khởi tạo doanh nghiệp giữ vai trò trung gian dẫn dắt Hành vi.
- Việc tham gia khóa học khởi nghiệp đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa Ý định và Hành vi.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình xây dựng thang đo và phương pháp thu thập mẫu. Tác giả tổng hợp thang đo từ các học giả quốc tế: thang đo ý định (Bảng 3.1), thang đo nhận diện cơ hội (Bảng 3.2), nhu cầu thành tích (Bảng 3.3), nguồn vốn (Bảng 3.4), vốn xã hội (Bảng 3.5), thang đo hành vi của Kautonen (Bảng 3.6) và thang đo hành vi của Sequeira và cộng sự (Bảng 3.7). Sau khi phỏng vấn 9 chuyên gia, thang đo được hiệu chỉnh và kiểm định sơ bộ trên 100 mẫu. Tác giả trình bày kết quả kiểm định KMO, Bartlett và ma trận xoay EFA sơ bộ (Bảng 3.25, Bảng 3.26), hoàn thiện bảng câu hỏi chính thức cho 2 giai đoạn khảo sát (Giai đoạn 1: n = 1.732; Giai đoạn 2: n = 597).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 thể hiện toàn bộ các phân tích định lượng của 2 giai đoạn nghiên cứu:
- Giai đoạn 1 (Ý định, n = 1.732): Hệ số Cronbach's Alpha và phân tích EFA của các thang đo thành phần (Khả năng nhận diện cơ hội, Nhu cầu thành tích, Nhu cầu độc lập, Nhu cầu tài chính, Để lại di sản cho con cái/gia đình, Nguồn vốn, Vốn cấu trúc, Vốn quan hệ, Vốn nhận thức, Ý định) đều đạt chuẩn tin cậy và giá trị hội tụ (Bảng 4.3 đến Bảng 4.16). Phân tích tương quan (Bảng 4.17) và phân tích hồi quy đa biến (Bảng 4.20) khẳng định các nhân tố nhận thức cá nhân và môi trường tác động có ý nghĩa thống kê đến ý định khởi tạo doanh nghiệp.
- Giai đoạn 2 (Hành vi, n = 597): Phân tích Cronbach's Alpha tổng hợp (Bảng 4.22) và kiểm định KMO, Bartlett (Bảng 4.23). Phân tích CFA (Hình 4.2, Bảng 4.24, 4.25, 4.26) cho thấy mô hình đạt độ tương thích, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (Hình 4.3, Bảng 4.27, 4.28) và kiểm định Bootstrap (Bảng 4.30) khẳng định các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận (Bảng 4.46).
- Kiểm định vai trò điều tiết và sự khác biệt: Kết quả xử lý biến điều tiết (Bảng 4.37) chứng minh việc tham gia khóa học khởi nghiệp điều tiết có ý nghĩa thống kê mối quan hệ giữa ý định và hành vi. Kiểm định Welch (Bảng 4.33, 4.36) và phân tích giá trị trung bình (Bảng 4.38 đến Bảng 4.45) chỉ ra sự khác biệt rõ nét về các yếu tố nhận diện cơ hội, nhu cầu thành tích, nhu cầu độc lập, di sản gia đình, nguồn vốn và các khía cạnh vốn xã hội giữa nhóm tiếp tục thực hiện hành vi khởi nghiệp và nhóm dừng lại không khởi tạo doanh nghiệp.
Bảng tổng hợp đặc điểm mẫu và các kỹ thuật thống kê qua hai giai đoạn nghiên cứu:
| Tiêu chí |
Giai đoạn 1 (Nghiên cứu ý định) |
Giai đoạn 2 (Nghiên cứu hành vi) |
| Quy mô mẫu hợp lệ |
n = 1.732 |
n = 597 (khảo sát lại đối tượng giai đoạn 1 sau 1 năm) |
| Đối tượng khảo sát |
Sinh viên năm cuối tại các trường đại học |
Đối tượng đã tốt nghiệp bước vào giai đoạn hành động thực tế |
| Địa bàn điều tra |
Vùng Đông Nam Bộ và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long |
Vùng Đông Nam Bộ và Vùng Đồng bằng sông Cửu Long |
| Kỹ thuật phân tích |
Cronbach's Alpha, EFA, Phân tích tương quan Pearson, Hồi quy đa biến |
Cronbach's Alpha, EFA, CFA, Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM, Bootstrap |
| Kiểm định nâng cao |
Kiểm định hệ số VIF, kiểm định phân phối |
Kiểm định Welch, Test of Homogeneity of Variances, Kiểm định điều tiết |
| Các nhóm biến chính |
Nhận diện cơ hội, NAch, Độc lập, Tài chính, Di sản, Vốn, Vốn xã hội, Ý định |
Ý định, Hành vi khởi tạo doanh nghiệp, Biến điều tiết khóa học khởi nghiệp |
Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị
Chương 5 đúc kết các phát hiện thực nghiệm và đề xuất các nhóm hàm ý quản trị cụ thể nhằm thúc đẩy hành vi tham gia khởi tạo doanh nghiệp:
- Đối với nhân tố khả năng nhận diện cơ hội: Cần tạo môi trường cọ xát thực tế, rèn luyện kỹ năng phát hiện nhu cầu thị trường chưa được đáp ứng.
- Đối với các thành phần động cơ: Tác động vào nhu cầu thành tích, nhu cầu độc lập và ý thức để lại di sản lâu dài cho gia đình.
- Đối với nhân tố nguồn vốn và vốn xã hội: Mở rộng các kênh tiếp cận tài chính ban đầu; củng cố vốn cấu trúc (mạng lưới kết nối), vốn quan hệ (sự tin tưởng, tương hỗ) và vốn nhận thức (sự chia sẻ tầm nhìn, hiểu biết chung).
- Đối với các cơ quan quản trị vĩ mô: Đưa ra hàm ý riêng biệt cho Nhà nước, các nhà hoạch định giáo dục (thiết kế khóa học thực chiến), các cơ quan truyền thông, các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp (vườn ươm) và chính bản thân các cá nhân khởi nghiệp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án mở rộng việc ứng dụng các lý thuyết hành vi (TRA, TPB, COM-B, lý thuyết các giai đoạn hành động) vào lĩnh vực quản trị kinh doanh tại Việt Nam bằng cách đo lường đồng thời cả hai trạng thái: ý định khởi tạo doanh nghiệp và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp (nascent behavior).
- Kiểm chứng thực nghiệm mô hình chuyển giao từ ý định sang hành vi theo thiết kế nghiên cứu chuỗi thời gian (2 giai đoạn cách nhau 1 năm), khắc phục hạn chế của các nghiên cứu cắt ngang trước đây vốn chỉ đo lường ý định hoặc giả định ý định sẽ tự động chuyển thành hành động.
- Làm rõ cấu trúc đa chiều của các nhân tố tác động: phân rã động cơ thành các thành phần cụ thể (nhu cầu thành tích, nhu cầu độc lập, nhu cầu tài chính, để lại di sản cho con cái/gia đình); phân tách vốn xã hội thành 3 chiều cạnh riêng biệt (vốn cấu trúc, vốn quan hệ, vốn nhận thức); và kiểm định sự khác biệt về mức độ tác động của các nhân tố này ở hai thời điểm.
- Chứng minh bằng thực nghiệm vai trò điều tiết của việc tham gia khóa học khởi tạo doanh nghiệp trong việc thúc đẩy cá nhân biến ý định thành chuỗi hành vi thực tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đối với Nhà nước và các cơ quan quản lý: Cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý từ Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, đơn giản hóa thủ tục hành chính, phát triển các quỹ bảo lãnh tín dụng khởi nghiệp nhằm giải quyết rào cản về nguồn vốn ban đầu.
- Đối với các nhà hoạch định giáo dục: Chuyển đổi chương trình đào tạo khởi nghiệp tại các trường đại học từ giảng dạy lý thuyết thuần túy sang mô hình thực hành, kết nối với doanh nghiệp và mạng lưới cựu sinh viên nhằm xây dựng vốn cấu trúc và vốn quan hệ cho người học.
- Đối với các tổ chức hỗ trợ và vườn ươm doanh nghiệp: Cung cấp không gian làm việc chung, cố vấn chuyên môn (mentoring), hỗ trợ kết nối mạng lưới đối tác và nhà đầu tư, giúp doanh nhân non trẻ nâng cao khả năng nhận diện cơ hội và giảm thiểu rủi ro thất bại.
- Đối với cơ quan truyền thông: Định hướng truyền thông tôn vinh các giá trị bền vững, tinh thần tự chủ và trách nhiệm xã hội thay vì chỉ tập trung vào khía cạnh làm giàu nhanh chóng.
- Đối với bản thân người khởi nghiệp: Cần chủ động tích lũy kiến thức quản trị, tham gia các khóa học chuyên sâu và chủ động xây dựng mạng lưới xã hội hỗ trợ trước khi chính thức giải ngân vốn thành lập doanh nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo những nội dung được tác giả trình bày trong văn bản:
- Hạn chế về bối cảnh và thời gian thu thập dữ liệu: Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 bùng phát kéo dài từ cuối năm 2019, quá trình thu thập dữ liệu khảo sát giai đoạn 2 vào đầu năm 2021 gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc suy giảm quy mô mẫu từ 1.732 người ở giai đoạn 1 xuống còn 597 người ở giai đoạn 2.
- Hạn chế về phạm vi địa bàn nghiên cứu: Mẫu khảo sát được tập trung chủ yếu tại khu vực phía Nam (vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm là Thành phố Hồ Chí Minh), chưa bao quát được các vùng kinh tế khác trên phạm vi toàn quốc như miền Bắc hay miền Trung.
- Hạn chế về đối tượng khảo sát ban đầu: Đối tượng nghiên cứu giai đoạn 1 khởi đầu từ sinh viên năm cuối của các trường đại học; dù đây là nhóm đối tượng tiềm năng nhưng chưa đại diện cho toàn bộ các tầng lớp doanh nhân non trẻ khác trong xã hội (như người đã đi làm lâu năm, lao động tự do).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Các nghiên cứu tương lai có thể mở rộng địa bàn khảo sát ra các tỉnh thành miền Bắc và miền Trung; theo dõi hành vi qua chuỗi thời gian dài hơn (sau khi doanh nghiệp đã vận hành chính thức trên 3 năm); đồng thời bổ sung thêm các biến kiểm soát khác thuộc về môi trường vĩ mô và đặc tính ngành nghề kinh doanh.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp khảo sát theo chiều dọc hai giai đoạn (longitudinal 2-stage design), quy trình xử lý dữ liệu phức hợp từ kiểm định thang đo sơ bộ, phân tích hồi quy đa biến đến mô hình SEM và kiểm định Bootstrap.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan toàn diện về lý thuyết hành vi khởi nghiệp non trẻ (nascent behavior), các bộ thang đo chuẩn hóa đã được kiểm định độ tin cậy trong bối cảnh Việt Nam.
- Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm để đánh giá hiệu quả các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp, từ đó điều chỉnh chính sách cấp vốn và vườn ươm doanh nghiệp sát với nhu cầu của người khởi nghiệp.
- Các trường đại học và cơ sở đào tạo: Cung cấp luận cứ để xây dựng và cải tiến khung chương trình giảng dạy về khởi sự kinh doanh, lồng ghép hoạt động phát triển vốn xã hội và năng lực nhận diện cơ hội cho người học.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giải quyết vấn đề cốt lõi nào trong nghiên cứu về khởi tạo doanh nghiệp?
Luận án giải quyết khoảng cách giữa ý định khởi sự kinh doanh và hành vi hành động thực tế. Khác với các nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc khảo sát ý định của sinh viên tại một thời điểm, luận án phân tích các nhân tố thúc đẩy cá nhân biến ý định thành hành vi cụ thể để thành lập doanh nghiệp thông qua khảo sát hai giai đoạn theo chuỗi thời gian.
2. Hai giai đoạn khảo sát định lượng chính thức được thực hiện với quy mô mẫu ra sao?
Giai đoạn 1 (giai đoạn ý định) thực hiện khảo sát trên 1.732 sinh viên năm cuối tại các trường đại học thuộc khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long từ năm 2018 đến cuối năm 2019. Giai đoạn 2 (giai đoạn hành vi) được tiến hành sau đó 1 năm (đầu năm 2021) trên chính đối tượng này, thu được 597 phiếu trả lời hợp lệ để đo lường các hành vi thực tế đã triển khai.
3. Những nhóm nhân tố nào được đưa vào mô hình để giải thích ý định và hành vi khởi nghiệp?
Mô hình nghiên cứu bao gồm hai nhóm nhân tố chính:
- Nhóm nhận thức cá nhân: Khả năng nhận diện cơ hội, Nhu cầu về thành tích, Nhu cầu độc lập, Nhu cầu tài chính, Để lại di sản cho con cái/gia đình.
- Nhóm môi trường: Nguồn vốn tài chính và Vốn xã hội (chia thành 3 khía cạnh: vốn cấu trúc, vốn quan hệ, vốn nhận thức).
4. Việc tham gia khóa học về khởi nghiệp có vai trò gì trong mô hình nghiên cứu?
Kết quả kiểm định thống kê tại Chương 4 (Bảng 4.37) xác nhận việc tham gia khóa học khởi nghiệp đóng vai trò là biến điều tiết (moderating variable) có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa ý định khởi tạo doanh nghiệp và hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp, giúp gia tăng khả năng chuyển biến từ ý định thành hành động thực tế.
5. Dữ liệu giai đoạn 2 được phân tích bằng những kỹ thuật định lượng nào?
Tại giai đoạn 2, tác giả sử dụng các kỹ thuật: kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), kiểm định độ vững bằng Bootstrap, kiểm định tính đồng nhất của phương sai (Test of Homogeneity of Variances), kiểm định Welch (Robust Tests of Equality of Means) và phân tích so sánh giá trị trung bình giữa nhóm tiếp tục khởi nghiệp và nhóm dừng lại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Ngọc Đoan Trang là công trình nghiên cứu thực nghiệm có hệ thống về các yếu tố thúc đẩy hành vi tham gia vào hoạt động khởi tạo doanh nghiệp tại Việt Nam. Bằng việc phối hợp các lý thuyết hành vi nền tảng và thiết kế nghiên cứu hai giai đoạn trên cỡ mẫu lớn tại khu vực phía Nam, công trình đã làm rõ cơ chế chuyển giao từ ý định sang hành động dưới tác động của nhận thức cá nhân, vốn xã hội và đào tạo khởi nghiệp. Các kết quả thống kê thu được cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp và hoàn thiện chương trình giáo dục khởi sự kinh doanh trong thực tiễn.