MỞ ĐẦU Giới thiệu một cách khái quát tổng quan về luận văn, các vấn đề chính của luận văn tập trung vào. CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu, các nhân tố ảnh hƣởng đến ý định khởi sự kinh doanh cũng nhƣ hành vi khởi sự kinh doanh, trình bày các nghiên cứu liên quan nhằm đi đến mô hình nghiên cứu chính của bài nghiên cứu, làm cơ sở cho các giả thuyết cần kiểm định. CHƢƠNG 3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Trình bày phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng cho luận văn này, bao gồm quy trình nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, số lƣợng mẫu điều chỉnh để có đƣợc 8 thang đo và cách thức tiến hành nghiên cứu chính để có thể có đƣợc kết quả nghiên cứu. CHƢƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trình bày kết quả nghiên cứ, thống kê mẫu nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá để đi đến kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và lƣợng giá tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh để từ đó làm cơ sở cho các hàm ý và kết luận ở chƣơng 5 của bài nghiên cứu.
CHƢƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý Thông qua kết quả nghiên cứu đề xuất các hàm ý và kết luận, rút ra những hạn chế cũng nhƣ gợi hƣớng cho các nghiên cứu tiếp theo. 9 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chƣơng 2 này trình bày cơ sở lý thuyết cho các khái niệm nghiên cứu có liên quan đến mô hình nghiên cứu, trình bày các cơ sở lý thuyết về khởi sự kinh doanh, ý định khởi sự kinh doanh, hành vi khởi sự kinh doanh và các yếu tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh và hành vi khởi sự kinh doanh, thông qua tổng kết các nghiên cứu có liên quan để có thể đƣa ra mô hình nghiên cứu đề xuất chính và các giả thuyết nghiên cứu của luận văn, bên cạnh đó dựa vào cơ sở lý thuyết để có thể tiến hành nghiên cứu định tính nhằm có đƣợc mô hình nghiên cứu và thang đo chính thức phục vụ cho công tác khảo sát và nghiên cứu định lƣợng. Cơ sở lý thuyết về khởi sự kinh doanh và ý định khởi sự kinh doanh 2. Khái niệm khởi sự kinh doanh Có rất nhiều tác giả đƣa ra nhiều khái niệm về khởi sự kinh doanh, chúng ta có thể xem xét một số khái niệm về khởi sự kinh doanh đƣợc nghiên cứu trƣớc đây nhƣ sau.
Theo Shapero & Shokol (1982) Khởi sự kinh doanh là một sự kiện bị tác động bởi những thay đổi trong đời sống của con ngƣời , quyết định một cá nhân thành lập một doanh nghiệp (hành động khởi sự kinh doanh) phụ thuộc vào những thay đổi quan trọng trong cuộc sống của cá nhân đó và thái độ của cá nhân đối với việc khởi sự kinh doanh hay bị thúc đẩy từ ý định khởi sự kinh doanh. Acs & Laszlo (2007) cho rằng Khởi sự kinh doanh là quá trình bắt đầu một doanh nghiệp mới, một doanh nghiệp mới là doanh nghiệp có biên chế trên số 0 trong bất kỳ năm nào và không tồn tại trong năm trƣớc, việc tạo ra doanh nghiệp mới là thƣớc đo quan trọng trong việc khởi sự kinh doanh, khi bắt đầu một doanh nghiệp mới là một trong những cách chủ yếu để doanh nhân đƣa những ý tƣởng mới ra thị trƣờng, nói cách khác khởi sự kinh doanh có thể đại diện cho việc thƣơng mại hóa các ý tƣởng. 10 Low & MacMillian (1988) cho rằng, khởi sự kinh doanh là việc tạo ra một doanh nghiệp mới với tất cả các nhu cầu và sự thực hiện của nó. Những doanh nghiệp mới này ngày càng tăng trong nền kinh tế cạnh tranh và toàn cầu hóa, là một bộ phận không thể tách rời của sự tinh vi về kinh doanh, sự đổi mới và tính doanh nghiệp đóng góp vào khả năng cạnh tranh của quốc gia.
Theo Iversen và cộng sự (2005) khởi sự kinh doanh là quá trình bằng cách con ngƣời sẽ mang những đổi mới (hàng hóa, dịch vụ, quy trình…) đến với ngƣời tiêu dùng, quá trình này mang tính năng động theo đó các doanh nhân mang những đổi mới cho thị trƣờng thay thế các doanh nghiệp (hoặc sản phẩm, quy trình ) không còn cạnh tranh, đồng thời gây áp lực lên các công ty hiện có, các hoạt động kinh doanh mang sự đổi mới cho thị trƣờng và dẫn đến sự biến đổi về kinh tế. Theo Ngoc Khuong & Huu An (2016) , Khởi sự kinh doanh là quá trình tạo ra liên doanh mới hoặc tổ chức mới thông qua quá trình đó một vài giá trị sẽ đƣợc tạo ra từ không có gì bằng cách đóng góp thời gian, nổ lực làm việc, tiền và chấp nhận rủi ro để đạt đƣợc phần thƣởng thực sự (ví dụ nhƣ sự hài lòng hoặc tự chủ cá nhân) và những phần thƣởng bên ngoài (ví dụ nhƣ các phần thƣởng liên quan đến tiền). Có rất nhiều khái niệm nói về khởi sự kinh doanh của các tác giả khác nhau nhƣng nhìn chung các khái niệm có điểm chung khi nói về khởi sự kinh doanh, các tác giả đều cho rằng khởi sự kinh doanh là việc bắt đầu một doanh nghiệp mới hay một tổ chức kinh doanh mới với các nổ lực và mong muốn nhằm mục đích đƣa các ý tƣởng của ngƣời khởi sự kinh doanh vào thị trƣờng để có thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua tổ chức mới hay doanh nghiệp mới của mình. Bài nghiên cứu này sử dụng khái niệm khởi sự kinh doanh theo quan điểm cho rằng khởi sự kinh doanh là một quá trình mà cá nhân tạo ra một công việc kinh doanh để có thể đƣa những ý tƣởng của mình tiếp cận với thị trƣờng nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc kinh doanh.
Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh 2. Khái niệm ý định Khi nói về ý định ta có thể xem xét một số khái niệm về ý định của các tác giả có liên quan trong những nghiên cứu trƣớc đây. Assagioli (1973) cho rằng ý định đƣợc hiểu nhƣ là sự sẵn lòng của cá nhân hoặc có kế hoạch tham gia vào một hành vi cụ thể, ý định đƣợc dùng để dự đoán cho một hành vi trong tƣơng lai. Theo Ajzen (1991) ý định đƣợc hiểu là trạng thái của tâm trí nó hƣớng sự chú ý của cá nhân, những kinh nghiệm, hành động hƣớng đến những việc cụ thể tức là mục tiêu hay cách thức đạt đƣợc một điều gì đó, nó nhƣ là một yếu tố tâm lý độc lập hoạt động thông qua sự quan tâm, chú ý của cá nhân, giữ những ý tƣởng dự định và sự ƣng thuận ban đầu về hành vi dự định.
Krueger và cộng sự (2000) thì cho rằng những ý định đƣợc cho là điều quan trọng để hiểu rõ những hành vi mà một cá nhân sẽ thực hiện, có thể sẽ có sự khác biệt giữa hành vi dự định và hành vi thực tế, tuy nhiên nó đƣợc xác định là một trong những xu hƣớng của hành động để hƣớng tới một cái gì đó theo một cách nhất định và nó là dự báo nhất quán của hành vi thực tế. Thông qua các khái niệm khác nhau về ý định, ta có thể thấy rằng các tác giả đƣa ra khái niệm ý định đều cho rằng : ý định là một dấu hiệu cho hành vi, ý định sẽ giúp định hình hành vi xảy ra trong tƣơng lai và là một trạng thái tâm lý sẽ hƣớng hành vi đến những gì đƣợc xem là ý định hay dự định từ trƣớc. Khái niệm ý định khởi sự kinh doanh Có rất nhiều tác giả đƣa ra các khái niệm liên quan đến ý định khởi sự kinh doanh, một số khái niệm về ý định khởi sự kinh doanh tiêu biểu mà bài nghiên cứu tham khảo. 12 Theo Krugger & BraZeal (1994) ý định khởi sự kinh doanh đƣợc định nghĩa là việc cam kết để tạo ra một doanh nghiệp mới và chúng đóng vai trò là chìa khóa an toàn cho hành vi kinh doanh sau này.
Shapero & Shokol (1982) thì cho rằng ý định khởi sự kinh doanh là việc tạo ra một công việc kinh doanh mới hoặc tạo ra những giá trị mới trong công việc kinh doanh hiện tại , ý định khởi sự kinh doanh đóng vai trò nhƣ một mối liên kết giữa doanh nhân (ngƣời sáng lập) với tƣ cách là một cá nhân với bối cảnh mà công việc kinh doanh đƣợc tạo ra. Theo Birds (1988) ý định khởi sự kinh doanh đề cập đến các cá nhân mà trạng thái của suy nghĩ hƣớng đến việc tạo ra công việc kinh doanh mới, phát triển một nhận thức kinh doanh mới hoặc tạo ra giá trị mới trong doanh nghiệp hiện tại, đây là yếu tố quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho công việc kinh doanh mới đƣợc tạo ra và có tác động đáng kể đến sự thành công cũng nhƣ tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Theo Dell (2008) định nghĩa ý định khởi sự kinh doanh là sự sẵn lòng của các cá nhân để thực hiện hành vi kinh doanh, tham gia vào các hoạt động kinh doanh, tự làm chủ hoặc thành lập một tổ chức kinh doanh mới, nó thƣờng gắn liền với tham vọng, những động lực bên trong và cảm giác tự làm chủ của một cá nhân. Có nhiều khái niệm về ý định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu của luận văn sử dụng khái niệm cho rằng ý định khởi sự kinh doanh là sự sẵn sàng để thực hiện hành vi kinh doanh thông qua việc làm chủ hành vi kinh doanh hoặc thành lập tổ chức kinh doanh của riêng mình đồng nghĩa với việc sẽ khởi sự kinh doanh (khởi nghiệp) trong tƣơng lai nếu nắm bắt đƣợc các cơ hội và nguồn lực cần thiết.
Các nhân tố tác động đến ý định khởi sự kinh doanh 2. Mô hình hành vi hoạch định Lý thuyết hành vi có kế hoạch cho rằng hành vi của con ngƣời là kết quả của dự định thực hiện hành vi và khả năng kiểm soát của họ. Lý thuyết TPB này đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về hệ thống thông tin và marketing trƣớc khi đƣợc các nhà nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực khởi sự kinh doanh.1 Lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB (Nguồn: Ajzen, 1991) Dự định thực hiện hành vi chịu tác động của 3 yếu tố Thái độ của cá nhân đối với hành vi : thể hiện mức độ đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của cá nhân về việc khởi sự kinh doanh.