CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP KHỞI NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp khởi nghiệp Kể từ khi bắt đầu xuất hiện đến nay, có khá nhiều định nghĩa hay cách hiểu về khởi nghiệp (KN) và doanh nghiệp khởi nghiệp (DNKN). Trong tiếng Anh, khái niệm KN (startup hoặc start-up) được hiểu là việc một cá nhân hay một tổ chức của con người đang trong quá trình bắt đầu kinh doanh, hay còn gọi là giai đoạn đầu lập nghiệp. Còn theo Mandela Schumacher-Hodge, thuật ngữ “DNKN- startup" không dùng để thông báo loại hình của doanh nghiệp, mà chủ yếu dùng để miêu tả trạng thái phát triển của doanh nghiệp (Ví dụ: tất cả các tập đoàn lớn hiện nay đều đã từng là DNKN). Một cách tiếp cận khác theo Neil Blumenthal – Đồng sáng lập và đồng CEO của Warby Parker - thì "DNKN là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp không phải là hiển nhiên và dĩ nhiên không có gì đảm bảo thành công cả”.
Như vậy, theo định nghĩa của các học giả phương Tây, DNKN có thể hiểu là một tập hợp các nguồn lực tạm thời (nhân lực, tiền, thời gian…) để đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh mới và nhanh chóng xây dựng thành một tổ chức/doanh nghiệp đạt quy mô, đồng thời có khả năng lặp lại hay nhân rộng tại các thị trường khác nhau; và thường tận dụng công nghệ làm lợi thế cạnh tranh. Tại Việt Nam, theo Luật Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ 2017, KN (startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, DNKN là một cộng đồng đặc biệt, e 9 “tính chất tạo ra những sản phẩm mới, phân khúc khách hàng mới bằng những công nghệ mới và ý tưởng mới chưa từng có, cách tiếp cận thị trường mới, thường là liên quan đến công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và vì qua mạng nên không có tính biên giới”. Chủ tịch HĐQT của FPT - ông Trương Gia Bình cho rằng: “nói đến startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới chưa từng làm” và không tính đến các doanh nghiệp mở quán cà phê hay quán phở.
DNKN là quá trình khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Một cách hiểu tương tự, bà Trương Lý Hoàng Phi- Giám đốc điều hành Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp TPHCM cho rằng DNKN phải bảo đảm được hai yếu tố là “start” và “up”. “Start” có nghĩa là bạn bắt đầu với một ý tưởng mới, hoặc nếu ý tưởng đó không mới thì cách làm phải đột phá và thường thì gắn với ứng dụng công nghệ. Còn “up” liên quan đến khả năng thương mại hóa và quy mô của thị trường, nghĩa là ý tưởng đó phải có khả năng được triển khai trong thực tế, có khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng, đồng thời phải có khả năng mở rộng được để “up” trong thời gian càng nhanh càng tốt.
DNKN phải dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo ra hình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới. Tức là các DNKN phải có gì đó khác biệt không chỉ với các DN khác ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cả với các DN khác trên thế giới. Vì đặc điểm đó nên DN khởi nghiệp nhanh chóng thu hút được đầu tư trong và ngoài nước để phát triển nhanh, ví dụ như Facebook, Google, thế nên chỉ trong 2-3 năm đã phát triển để trở thành các tập đoàn lớn. Tổng quát lại, có thể hiểu DNKN (Startup) là những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung (Startup company), gắn với những e 10 đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến những điều thế giới chưa từng làm.
Doanh nghiệp khởi nghiệp là một tổ chức được thiết kế nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất và có cơ hội tăng trưởng nhanh nhất, xây dựng một phân khúc thị trường mới, tạo ra sự khác biệt không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà nhà nước sử dụng nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp khởi nghiệp, góp phần phát huy, nâng cao hiệu quả và khuyến khích cho hệ thống các doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi là quá trình chuyển hóa các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp của nhà nước thành những hành động cụ thể nhằm thực hiện tốt những chính sách mà nhà nước ban hành để hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp.2 Đặc điểm của doanh nghiệp khởi nghiệp DNKN có những đặc điểm riêng khác với các doanh nghiệp thông thường. Các đặc điểm này được thể hiện bao gồm: 1.
Đột phá và sáng tạo Đột phá và sáng tạo là một xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh doanh trong thời đại 4. Giá trị của trí tuệ, sáng tạo và vô cùng to lớn, góp phần tạo sự đột phá và quyết định khả năng cạnh tranh của DNKN trong điều kiện tiền vốn, máy móc hay cơ bắp là hữu hạn. Tăng trưởng cao dựa vào sáng tạo và tiềm năng của DNKN, với những ý tưởng kinh doanh mang tính đột phá và sáng tạo. Dựa vào những ý tưởng kinh doanh mang tính đột phá và sáng tạo dựa trên những giả thuyết không chắc chắn, nhưng đã rõ nhu cầu của thị trường và nếu việc hoạt động như dự định, sản phẩm hoặc dịch vụ có thể thu hút nhiều khách hàng tiềm năng đem lại một lực đẩy mạnh mẽ cho DNKN.
e 11 Đối với DNKN, tính đột phá là điều bắt buộc. DNKN có thể tạo ra một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang có sẵn. Ví dụ, DNKN có thể tạo ra một phân khúc mới trong sản xuất (như thiết bị thông minh đo lường sức khoẻ cá nhân), một mô hình kinh doanh hoàn toàn mới (như AirBnb), hoặc một loại công nghệ độc đáo, chưa hề thấy (như công nghệ in 3D). Công nghệ thường là đặc tính tiêu biểu của sản phẩm từ một DNKN.
Đây là yếu tố quyết định, là mục tiêu kiên quyết theo đuổi của các DNKN. Dù vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều vào công nghệ, thì DNKN cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như tham vọng tăng trưởng. Tiềm năng tăng trưởng và lợi nhuận lớn Khác với doanh nghiệp truyền thống đề cao việc tạo ra lợi nhuận và một khi đạt được lợi nhuận mới nghĩ đến việc mở rộng doanh nghiệp. DNKN sẽ đam mê tăng trưởng công ty càng nhanh càng tốt, và tạo ra một mô hình kinh doanh có tính tăng trưởng.
DNKN sẽ muốn nhân bản mô hình kinh doanh thành công của mình ra khắp thế giới. DNKN xem mình là người đi khai phá thị trường, họ tạo ra ảnh hưởng cực lớn. Một DNKN sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, và họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể. DNKN xây dựng mô hình kinh doanh để sản phẩm hoặc dịch vụ của họ có thể cung cấp ở nhiều thị trường khác nhau và có thể tùy chỉnh trong mô hình chuyển đổi khách hàng (ví dụ: hỗ trợ khách hàng, ngôn ngữ, hậu cần, hoạt động tiếp thị), nhưng nhìn chung, thị trường toàn cầu có thể được giải quyết đồng thời với cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ cốt lõi.
Nếu bạn chỉ muốn doanh nghiệp ổn định để cho bạn có thể sống còn thì bạn đang nhắm tới doanh nghiệp nhỏ chứ không phải là DNKN. Nếu bạn khởi đầu một nhà hàng, bạn chỉ phải cạnh tranh với các nhà hàng địa phương khác. Nếu bạn khởi đầu doanh nghiệp động cơ tìm kiếm thì bạn phải cạnh tranh với e 12 toàn thế giới. Là một DNKN, bạn phải đi cùng cái gì đó mà có thể được chuyển giao cho thị trường lớn để cho bạn có được nhiều khách hàng.
Để thịnh vượng và tăng trưởng, nhà doanh nghiệp phải có viễn kiến về tương lai. Điều đó nghĩa là DNKN phải có khả năng cung cấp giá trị cho thị trường lớn; nó phải làm cái gì đó mà nhiều khách hàng muốn; nó phải có khả năng đạt tới khách hàng nhanh chóng nhất có thể được; và nó phải sẵn lòng thay đổi khi thị trường hay công nghệ thay đổi. Chẳng hạn, nếu bạn tạo ra một sản phẩm để được dùng chỉ trong thị trường địa phương, bạn có thể đạt tới một số giới hạn người dùng nhưng nếu bạn tạo ra nó cho thị trường toàn cầu thì bạn đang nghĩ về tăng trưởng nhanh. Nếu bạn muốn khởi đầu một công ty, tại sao không bắt đầu với cái gì đó mà có tiềm năng nhất? Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống người sáng lập sẽ muốn có doanh thu từ ngay ngày đầu tiên doanh nghiệp đi vào hoạt động, và tốt hơn nữa là có luôn lợi nhuận.
Giá trị lợi nhuận sẽ phụ thuộc vào số tiền mà bản thân người sáng lập muốn kiếm được (cho chính bản thân họ), cũng như sẽ phụ thuộc vào kế hoạch mở rộng doanh nghiệp. Còn đối với các DNKN có thể cần đến nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để có được doanh thu (dù rất nhỏ). DNKN sẽ tập trung vào phát triển một sản phẩm thật sự hữu ích cho người dùng, nhằm có được một lượng khách hàng đông đảo. Nếu kế hoạch thành công, lợi nhuận tài chính có thể rất khổng lồ.
Khởi đầu khó khăn và rủi ro cao So với doanh nghiệp truyền thống DNKN có nhiều rủi ro hơn và cũng có nhiều lợi thế hơn. DNKN thường làm việc theo nhóm để xây dựng doanh nghiệp dựa trên công nghệ, quy trình, quy mô kinh doanh, hoặc ý tưởng mới tạo ra cho họ một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các doanh nghiệp truyền thống. Vốn của DNKN bắt đầu từ chính tiền túi của người sáng lập, hoặc đóng góp từ gia đình và bạn bè, một số trường hợp thì gọi vốn từ cộng đồng (crowdfunding).