Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Hong và cộng sự (2020) đã phân tích các yếu tô quyết định ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Malaysia. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB).
Nghiên cứu khảo sát 100 sinh viên tại Kolej Islam Antarabangsa Sultan Ismail Petra - KIAS (Cao dang Hồi giáo Quốc tế Sultan Ismail Petra) bang bang câu hỏi soạn sẵn. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả và mô hình phương trình cấu trúc dựa trên bình phương tối thiểu từng phần PLS-SEM. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên là Thái độ, Chuan chủ quan, Nhận thức kiểm soát hành vi và Giáo dục khởi nghiệp. Trong đó, Thái độ và Giáo dục khởi nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với ý định khởi nghiệp của sinh viên ở Malaysia.
Lee và cộng sự (2022) đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của 203 sinh viên đến từ 55 trường đại học tại Hàn Quốc. Dự liệu được thu thập thống qua khảo sát trực tuyến. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và thuyết hành động hợp lý (TRA). Các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô ta và mô hình phương trình cau trúc dựa trên bình phương tối thiêu từng phần PLS-SEM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố anh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Hàn Quốc là Tính sáng tạo, Hiệu quả bản thân, Địa điểm kiểm soát nội bộ, Quá trình thăm dò và Khai thác bản thân. Cera và cộng sự (2022) đã xem xét các yếu tố tác động đến ý định khởi nghiệp của 800 thanh niên tại 3 quốc gia là Albania, Kosovo và Bắc Macedonia trong thời kỳ covid 19. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và thuyết hành động hợp lý (TRA). Các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả và mô hình phương trình cấu trúc dựa trên bình phương tối thiểu từng phần PLS-SEM.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp là Thái độ, Kiểm soát hành vi nhận thức, Chuẩn chủ quan và ảnh hưởng của dịch bệnh. Ragazou và cộng sự (2022) đã nghiên cứu ý định khởi nghiệp của thanh niên Hy Lạp trong thời kỳ khủng hoảng. Dựa trên ba lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết cảm xúc và lý thuyết nhận thức khởi nghiệp, nghiên cứu đã sử dụng hàm hồi quy Logit với dir liệu được thu thập từ 369 thanh niên Hy Lap dang theo học tại Đại học Thessaly nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp trong thời kỳ khủng hoảng. Kết quả cho thấy các yếu tô thúc đây tham gia khởi nghiệp là gia đình và bạn bè.
Các yếu tố cản trở khởi nghiệp là kinh nghiệm làm việc trong doanh nghiệp gia đình và thiếu kiến thức giáo dục. Nghiên cứu của Mohammad và cộng sự (2022) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thanh niên khởi nghiệp trong đại dịch Covid. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và thuyết hành động hợp lý (TRA). Trọng tâm của nghiên cứu là ba yếu tố quan trọng về trình độ học van, tính sáng tạo và sự sẵn sang chấp nhận rủi ro của doanh nhân.
Nghiên cứu đã khảo sát 230 sinh viên trẻ mới tốt nghiệp ở độ tuổi dưới 35 thông qua bảng câu hỏi trực tuyến. Dữ liệu được xử lý bang phần mềm SPSS 20.0 với các công cụ thống kê mô tả, kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA va phân tích hồi quy đa biến. Kết quả cho thấy ý định khởi nghiệp của thanh niên Malaysia ảnh hưởng đáng kể bởi mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro và tính sáng tao của họ chứ không phải trình độ học vấn và đào tạo. Nghiên cứu đã đóng góp cái nhìn sâu sắc vào các doanh nhân trẻ ở Malaysia và tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giáo dục và chính phủ trong việc tạo ra các doanh nhân thành công.
Nghiên cứu trong nước Nguyễn Văn Đức (2017) đã nghiên cứu các nhân tổ ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và thuyết hành động hợp lý (TRA). Nghiên cứu thực hiện dựa trên khảo sát 192 thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận. Thực hiện kiểm định thang đo bằng đánh giá Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám pha EFA rút ra được 6 nhân tổ độ lập gồm Năng lực khởi nghiệp, Thái độ khởi nghiệp, Đam mê khởi nghiệp, Nguồn vốn, Thị trường và Hỗ trợ khởi nghiệp.
Trong đó, nhân tố Năng lực khởi nghiệp có tác động mạnh nhất ảnh hưởng trực tiếp đến ý định khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận. Từ đó, tác giả đã đề xuất các biện pháp nhằm tăng khả năng khởi nghiệp của thanh niên trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang. Nguyễn Thị Bích Liên (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn Thành phó Hồ Chi Minh. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB).
Mẫu khảo sát được chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện với kích thước n = 424 sinh viên trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả, phân tích nhân tố EFA và hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 5 yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trên địa bàn TP.
Hồ Chí Minh, bao gồm: Đặc điểm tính cách; Chuẩn chu quan; Nhận thức tính kha thi; Nguồn vốn; và Giáo dục khởi nghiệp. Huỳnh Bá Trọng (2020) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên và gợi ý một số chính sách thúc đầy khởi nghiệp thanh niên tại tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và thuyết hành động hợp lý (TRA). Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ kết quả khảo sát trực tiếp 150 thanh niên tại tỉnh Tiền Giang.
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 với các công cụ thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá, kiểm tra độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy 05 yêu tố đại diện có ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của thanh niên Tiền Giang, cụ thé: (1) Nguồn vốn, (2) Kinh nghiệm, (3) Giáo dục, (4) Sự tự tin và (5) Chính sách hỗ trợ của Chính phủ và địa phương. Trong đó, yêu tố “Giáo dục” chi phối ý định khởi nghiệp tích cực nhất. Từ kết quả nghiên cứu, đề tài gợi ý một số chính sách nhằm giúp các đơn vị quản lý thanh niên cấp tỉnh thúc day khởi nghiệp thanh niên phát triển nhiều hơn, theo đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về khởi nghiệp và các đề án, chương trình của Đoàn thanh niên các cấp về đồng hành với thanh niên trên con đường lập thân, lập nghiệp.
Võ Văn Hiền và Lê Hoàng Vân Trang (2021) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên trường đại học Tiền Giang. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) kết hợp với các nghiên cứu liên quan dé xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm bảy nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khảo sát 280 sinh viện thuộc các khoa quản lý ngành đào tạo gồm: các ngành thuộc khoa Kinh tế - Luật, các ngành thuộc khoa Kỹ Thuật và Công Nghệ Thông Tin, các ngành thuộc khoa Nông Nghiệp và Công Nghệ Thực Phẩm, các ngành thuộc khoa Sư Phạm và Xã Hội Nhân Văn. Nghiên cứu định lượng được tién hành dé kiểm định độ tin cậy thang đo va đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tô đến ý định khởi nghiệp thông qua phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có 05 nhân tô ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên, sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng giảm dan là: (1) đặc điểm tính cách, (2) giáo duc khởi nghiệp, (3) kinh nghiệm, (4) nhận thức kiểm soát hành vi và (5) quy chuẩn chủ quan. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị liên quan đến 5 nhân tố ảnh hưởng cũng được đưa ra nhằm tăng khả năng khởi nghiệp của sinh viên nhà trường, đồng thời đề xuất hướng nghiên cứu cho tương lai. Nguyễn Thị Thanh Vân và cộng sự (2021) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết hành vi du định (TPB), lý thuyết hành vi có kế hoạch (Shapero - Krueger, 2000), lý thuyết sự kiện khởi nghiệp Shapero và Sokol (1982).
Dữ liệu được thu thập từ 250 sinh viên khối ngành kinh tế thuộc trường Đại học Trà Vinh (TVU), thông qua phương pháp phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu tìm ra 06 yếu tô ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên khối ngành kinh tế gồm: Hỗ trợ khởi nghiệp; Nhận thức tính khả thi; Môi trường giáo dục; Đặc điểm tính cách; Thái độ đối với hành vi khởi nghiệp; Tiếp cận tài chính. Từ kêt quả nghiên cứu, nghiên cứu đã đê xuât các giải pháp nhăm nâng cao hơn nữa ý định khởi nghiệp cho sinh viên khối ngành kinh tế và sinh viên ngành khác trong thời gian tới. Lê Như Minh và cộng sự (2022) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp theo hướng sáng tạo và bền vững của thanh niên Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết hành vi dự định (TPB) và mô hình sự kiện khởi nghiệp (SEE).
Khao sát được tiến hành dưới hình thức bang hỏi trực tuyến trên toàn quốc, đối tượng khảo sát bao gồm nhóm thanh niên đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam trong nhóm tudi từ 18 - 30. Phương pháp kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khang định CFA và phân tích mô hình cau trúc tuyến tính SEM được sử dụng dé phân tích dir liệu từ 331 phiếu trả lời hợp lệ.