chương 1, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi nghiên cứu từ đó lựa chọn phương pháp nghiên cứu, và cơ sỡ dữ liệu cần thu thập, đưa ra kết cấu luận văn gồm 5 chương 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Lý thuyết về khởi nghiệp Khởi nghiệp là thuật ngữ Entrepreneurship (hay Startup) trong tiếng Anh, bắt nguồn từ tiếng Pháp “entreprendre” có nghĩa là doanh nghiệp (Nguyễn Thu Thủy, 2013). Khởi nghiệp được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nghĩa hẹp là bắt đầu sở hữu một doanh nghiệp mới, và rộng hơn là con đường sự nghiệp hướng tới tự làm chủ, sáng lập, đổi mới và giám sát rủi ro (Bruyat & Julien, 2001). Một thế chế con người chuyên tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện không chắc chắn (Ries, 2019).
Khởi nghiệp mô tả quan điểm của mỗi người suy nghĩ và hành động để lựa chọn nghề nghiệp và tạo ra một doanh nghiệp mới (Nabi & Liñán, 2011). Khái niệm khởi nghiệp cũng được đề cập trong nhiều nghiên cứu khác, chủ yếu tập trung vào việc thành lập và sở hữu bất kỳ doanh nghiệp mới nào. "Khởi nghiệp" được định nghĩa là một thuật ngữ bao hàm nhiều vấn đề khác nhau theo thời gian Theo Stevenson (1989), "Khởi nghiệp là một quá trình trong đó mọi người nhận thức rõ ràng về sự sở hữu doanh nghiệp, phát triển ý tưởng về doanh nghiệp, tìm hiểu về cách trở thành doanh nhân và quản lý doanh nghiệp." Hisrich & Peters (2002) đã định nghĩa thuật ngữ "khởi nghiệp" là "quá trình phân bổ thời gian và nỗ lực cần thiết để tạo ra thứ gì đó mới có giá trị và chấp nhận rủi ro tài chính liên quan đến nó." Và kết quả là tài chính, sự hài lòng cá nhân và độc lập. Theo Begley (2001), Khởi nghiệp là khi mọi người bắt đầu kinh doanh riêng.
Macmillan (1993) mô tả Khởi nghiệp là một người đầu tư vào doanh nghiệp, bắt đầu kinh doanh, làm giàu, chấp nhận rủi ro để bắt đầu một doanh nghiệp mới và bắt đầu một doanh nghiệp mới cho chính mình. Trong nghiên cứu này, Khởi nghiệp là một người (một mình hoặc cùng với những người khác) tận dụng cơ hội thị trường để bắt đầu một công việc kinh doanh mới. Bằng việc cung cấp một sản phẩm mới, cung cấp một dịch vụ mới, hay đã có trên thị trường, nhưng được thực hiện bởi ý tưởng của riêng bạn. Byrd (1988) lập 8 luận rằng ý định khởi nghiệp của một người có yếu tố quyết định sự quan tâm của người đó đối với doanh nghiệp, và do đó sẽ hành động hướng đến doanh nghiệp.
Ý định khởi nghiệp Ý định kinh doanh có thể được định nghĩa là sự sẵn sàng của một người để bắt đầu kinh doanh (Souitaris, Zerbinati & Al-Laham, 2007). Ông nhấn mạnh rằng việc lập kế hoạch và xây dựng doanh nghiệp là cả một quá trình (Gupta & Bhawe, 2007). Bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình thì cá nhân nên được thực hiện bằng cách nhận ra các khả năng và sử dụng các nguồn lực sẵn có (Kuckertz & Wagner, 2010). Theo Schwarz, Wdowiak, Almer-Jarz và Breitenecker (2009), ý định khởi nghiệp của sinh viên bắt nguồn từ ý tưởng của sinh viên và được quản lý phù hợp bởi chương trình giảng dạy và những người đào tạo.
Nghiên cứu này, ý định khởi nghiệp của sinh viên và ý định của sinh viên tham gia vào hành vi kinh doanh có chủ đích để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị đáp ứng nhu cầu của họ. Ý định khởi nghiệp của thanh niên là ý muốn hoặc quyết tâm của các cá nhân ở độ tuổi thanh niên (thường từ 18 đến 30 tuổi) trong việc sáng tạo, thành lập và điều hành một doanh nghiệp hoặc tổ chức với mục tiêu tạo ra giá trị và kiếm lời. Ý định này thể hiện quyết tâm của thanh niên để thực hiện các ý tưởng kinh doanh, sản phẩm hoặc dịch vụ mới, hướng đến mục tiêu kinh doanh và đóng góp tích cực vào cộng đồng và xã hội. Ý định khởi nghiệp của thanh niên thường xuất phát từ nhiều yếu tố, bao gồm: Đam mê: Thanh niên thường có niềm đam mê và tình yêu đối với việc khởi nghiệp và kinh doanh.
Họ có ý muốn tạo ra thay đổi tích cực và tận dụng cơ hội để thực hiện ý tưởng của mình. Tính sáng tạo: Thanh niên thường có tinh thần sáng tạo và khao khát đưa ra các ý tưởng mới và đột phá trong kinh doanh. Khao khát tự chủ: Ý định khởi nghiệp còn phản ánh khao khát tự chủ và kiểm soát về cuộc sống và công việc của họ, thay vì làm việc cho người khác. 9 Tầm nhìn: Thanh niên có ý định khởi nghiệp thường có tầm nhìn rõ ràng về điều họ muốn đạt được và hướng dẫn cho sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
Khả năng thích nghi: Thanh niên thường có khả năng thích nghi cao với môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng và khó khăn trong quá trình khởi nghiệp. Tìm kiếm cơ hội: Thanh niên thường có khả năng tìm kiếm cơ hội kinh doanh và hiểu biết về thị trường và ngành công nghiệp. Học hỏi và phát triển kỹ năng: Ý định khởi nghiệp thường cần phải tích lũy kiến thức và phát triển các kỹ năng cần thiết để quản lý và vận hành doanh nghiệp. Ý định khởi nghiệp của thanh niên là một sự tỏa sáng và đem lại nhiều cơ hội phát triển cho bản thân cũng như xã hội nói chung.
Tuy nhiên, quá trình khởi nghiệp cũng đòi hỏi sự kiên nhẫn, nỗ lực và ý chí để vượt qua những khó khăn và thách thức. Người khởi nghiệp Người khởi nghiệp là người bắt đầu một doanh nghiệp mới để đưa sản phẩm hoặc dịch vụ ra thị trường. Knight (1921) nói rằng một doanh nhân là người dự đoán những thay đổi và sự không chắc chắn của thị trường và cố gắng hành động phù hợp. Đối với McClelland (1961), một doanh nhân là một người năng động, dám nghĩ dám làm với động lực mạnh mẽ để thành công hoặc thành đạt.
Đây là những người luôn nhìn thấy sự thay đổi, thích nghi và nắm bắt cơ hội. Doanh nhân tiềm năng là người biết nắm bắt những cơ hội kinh doanh có thể nhìn thấy được, là người yêu thích thử thách và chấp nhận rủi ro, mạo hiểm. Kruger và Brazil (1994) lập luận rằng các doanh nhân tiềm năng là những người chấp nhận rủi ro và hành động khi họ nhìn thấy dấu hiệu của một cơ hội kinh doanh. Theo Begley và Tan (2001), những người có tiềm năng kinh doanh là những người chưa bao giờ bắt đầu kinh doanh và có mong muốn và tin tưởng vào tiềm năng thành công của họ khi họ bắt đầu kinh doanh.
Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp Việc xác định và hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả là rất cần thiết 10 và quan trọng đối với các nhà nghiên cứu cũng như các nhà sáng lập để đưa ra quyết định sáng suốt. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh được nhiều tác giả trích dẫn tập trung vào hai yếu tố: khả năng kinh doanh và môi trường kinh doanh. Nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực kinh doanh và phát triển kinh doanh đã chỉ ra mối quan hệ giữa năng lực kinh doanh với hiệu suất và sự phát triển của các đơn vị kinh doanh. Có nhiều yếu tố thể hiện khả năng kinh doanh được đề cập trong nghiên cứu, trong đó có 3 yếu tố có mức độ đồng ý cao.
Sattakoun Vannasinh, 2017), Năng lực quản lý và kinh doanh (Hood & Young, 1993; Mitton, 1989; Baum, 1994; Man et al., 2002; Sattakoun Vannasinh, 2017), Tinh thần doanh nhân 1988); Man và cộng sự, 2002; Ngoài ra, 2002; Sattakouun Vannasinh, 2017). Có các yếu tố như tập quán kinh doanh, khả năng kinh doanh. Nó cũng xuất hiện trong một số nghiên cứu. Một nghiên cứu của Nhóm các yếu tố môi trường khởi nghiệp cho thấy đa dạng môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình khởi nghiệp và hiệu quả kinh doanh của các start-up.
Quyết định và hành động của một doanh nhân dựa trên nhận thức của anh ta về môi trường kinh doanh. Có năm yếu tố môi trường ảnh hưởng đến kết quả khởi nghiệp và đây là những yếu tố mà các nhà nghiên cứu phần lớn chia sẻ. Zain & Kassin 2012, Sattakoun Vannasinh, 2017); Grimaldi & Grandi, 2005; Meuleman & De Maeseneir, 2012; Sattakoun Vannasinh, 2017), Tiếp cận thị trường (Meuleman & De Maeseneir, 2012; Zain & Kassin 2012, Sattakoun Vannasinh, 2 & Winter, 1991; Garner, 1995; Radas & Bozic, 2009; Meuleman & De Maeseneir, 2012) 2. Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định hành vi 2.
Mô hình sự kiện kinh doanh (The Entrepreneurial Event Model) Mô hình này xem xét việc kinh doanh là một sự kiện có thể được giải thích bằng sự tương tác giữa sáng kiến, khả năng, quản lý, quyền tự chủ tương đối và rủi ro. Theo mô hình này, ý định kinh doanh phụ thuộc vào 3 yếu tố: (1) sự ham muốn kinh doanh, (2) xu hướng hành động, và (3) sự sẵn sàng kinh doanh. 11 Hành vi kinh doanh Sự ham muốn kinh doanh Ý định kinh doanh Sự sẵn sàng kinh doanh Xu hướng hành động Hình 2.1: Mô hình sự kiện kinh doanh của tác giả Shapero (Nguồn: Krueger và Carsrud, 1993; Summers 1998; Krueger và ctg 2000) 2. Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action –TRA) được áp dụng cho các nghiên cứu thái độ và hành vi, mô hình này cho thấy được ý định hành vi là yếu tố tốt nhất để xác định được hành vi.
Theo Fishbein (1967), yếu tố quyết định đến hành vi cuối cùng không phải là thái độ mà là ý định hành vi. Ý định của con người nhằm thực hiện hành vi bị tác động bởi thái độ và quy chuẩn chủ quan. Thái độ đối với một hành động là bạn cảm thấy như thế nào khi làm một việc gì đó. Quy chuẩn chủ quan là người khác cảm thấy như thế nào khi bạn làm việc đó (gia đình, bạn bè,…).
Lý thuyết cho rằng các yếu tố ngoại vi có thể ảnh hưởng gián tiếp đến ý định thông qua hai yếu tố chính trên Niềm tin và Quy chuẩn sự đánh giá chủ quan Ý định Hành động hành vi thực sự Niềm tin theo chuẩn mực và Thái độ động cơ thúc đẩy Hình 2.2: Mô hình Lý thuyết hành động hợp lý của Fishbein (Nguồn: Fishbein và Ajzen, 1975) 12 2. Lý thuyết dự định hành vi Theo Ajzen có thể dự đoán được ý định thực hiện hành vi và thái độ đối với hành vi.