Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp sản xuất giấy và bao bì carton đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế với nhu cầu sử dụng giấy tái sinh toàn cầu năm 2010 đạt khoảng 140 triệu tấn và sản lượng giấy tại Việt Nam đạt mức 1,85 triệu tấn. Tuy nhiên, quy trình tái chế tiêu tốn từ 5 đến 30 mét khối nước cho mỗi tấn sản phẩm hoàn thiện, đồng thời phát sinh lượng lớn dòng thải chứa nồng độ ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng rất cao. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào thực trạng hệ thống xử lý nước thải cũ của Công ty TNHH Sản xuất Giấy Tân Nhật Dũng, vốn chỉ có công suất 150 mét khối mỗi ngày đêm và vận hành từ năm 2006, nay đã xuống cấp nghiêm trọng và quá tải hoàn toàn khi doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất lên 35 tấn sản phẩm mỗi ngày.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát toàn diện hiện trạng phát sinh chất thải, đồng thời tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải mới với công suất 550 mét khối mỗi ngày đêm, bảo đảm chất lượng dòng thải đầu ra đạt tiêu chuẩn loại B theo QCVN 12:2008/BTNMT trước khi đấu nối vào mạng lưới thu gom tập trung. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện tại khuôn viên nhà máy có tổng diện tích 9.684,4 mét vuông, tọa lạc tại Lô A6-11 Khu công nghiệp Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh trong mốc thời gian từ ngày 25 tháng 03 năm 2012 đến ngày 25 tháng 07 năm 2012. Ý nghĩa môi trường và kinh tế của công trình thể hiện rõ qua việc triệt tiêu hơn 90% tải lượng ô nhiễm hữu cơ, bảo vệ hệ sinh thái lưu vực Kênh Thầy Cai và sông Sài Gòn, đồng thời thu hồi khoảng 3.000 kg bột giấy vụn mỗi ngày để tái phục vụ quy trình sản xuất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết xử lý hóa lý qua cơ chế keo tụ tạo bông kết hợp với lý thuyết xử lý sinh học hiếu khí bằng bùn hoạt tính lơ lửng Aerotank. Cơ chế keo tụ dựa trên việc trung hòa điện tích bề mặt của các hạt keo mang điện tích âm bằng chất keo tụ PAC ở liều lượng tối ưu 0,874 kg trên một mét khối nước thải tại ngưỡng pH bằng 7,0, sau đó tạo cầu nối liên kết hạt bông thông qua hợp chất polymer trợ lắng. Quá trình xử lý sinh học hiếu khí dựa trên hoạt động sống của quần thể vi sinh vật dị dưỡng hoại sinh, thực hiện quá trình oxy hóa sinh hóa để chuyển hóa các chất hữu cơ hòa tan thành sinh khối mới, khí carbonic và nước với nồng độ bùn hoạt tính duy trì trong khoảng 2.500 đến 3.500 mg/l.

Mô hình dây chuyền công nghệ đề xuất là chuỗi xử lý đa bậc liên hoàn gồm song chắn rác thô, lưới lọc tinh trống quay tách sợi cellulose, bể điều hòa sục khí cưỡng bức, bể keo tụ tạo bông hóa lý, bể lắng sơ cấp, bể khuấy trộn bổ sung chất dinh dưỡng đạm và lân, bể sinh học hiếu khí Aerotank và bể lắng thứ cấp. Ba khái niệm chuyên môn nền tảng chi phối thiết kế gồm nhu cầu oxy sinh hóa sau 5 ngày (BOD5 đạt 1.163 mgO2/l ở đầu vào), nhu cầu oxy hóa học (COD đạt 3.582 mgO2/l) và tổng chất rắn lơ lửng (TSS ghi nhận 614 mg/l), cùng tỷ lệ BOD5 trên COD đạt 0,325 thể hiện tính khả thi của quá trình xử lý sinh học khi được bổ sung cơ chất thích hợp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu đo đạc thực địa về lưu lượng xả thải trung bình 22,92 mét khối mỗi giờ, lưu lượng cực đại 68,75 mét khối mỗi giờ (với hệ số không điều hòa k bằng 3,0) và kết quả phân tích lý hóa từ các đợt quan trắc phòng thí nghiệm. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 12 mẫu nước thải tổ hợp lấy đại diện theo các ca sản xuất trong suốt chu kỳ 4 tháng liên tục từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2012, bảo đảm tính điển hình cho cả dòng thải sản xuất từ công đoạn xeo giấy và dòng thải sinh hoạt của 130 cán bộ công nhân viên (tương ứng 11,76 mét khối mỗi ngày). Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khung giờ hoạt động của xưởng xeo giấy được lựa chọn nhằm thu thập chính xác sự dao động nồng độ ô nhiễm.

Các phương pháp phân tích chỉ tiêu tuân thủ tuyệt đối hệ thống tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế gồm TCVN 6185:2008 cho độ màu, TCVN 6492:2011 cho giá trị pH, TCVN 6001:2008 cho BOD5, phương pháp SMEWW 5220.C:2005 cho COD, TCVN 6638:2000 cho TSS và TCVN 6493:2008 cho hợp chất halogen hữu cơ hấp phụ AOX. Lý do lựa chọn các phương pháp phân tích tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo tính pháp lý vững chắc, độ lặp lại cao và hạn chế tối đa sai số thiết kế. Việc tính toán kích thước thủy lực cho từng đơn nguyên công trình tuân thủ nghiêm ngặt theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 51:2008 và giáo trình thiết kế xử lý nước thải công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chất lượng nguồn thải đầu vào tại nhà máy Tân Nhật Dũng cho thấy mức độ ô nhiễm vượt xa ngưỡng tiếp nhận an toàn của môi trường. Chỉ số COD trung bình đạt 3.582 mgO2/l, cao gấp 17,9 lần so với giới hạn cột B của QCVN 12:2008/BTNMT (mức trần 200 mg/l), trong khi BOD5 ghi nhận ở mức 1.163 mgO2/l, vượt ngưỡng cho phép 50 mg/l đến 23,26 lần. Hàm lượng chất rắn lơ lửng TSS đạt 614 mg/l, cao hơn quy chuẩn 6,14 lần, và độ màu đo được là 475 Pt-Co, vượt giới hạn 100 Pt-Co khoảng 4,75 lần. Lượng halogen hữu cơ dễ hấp thụ AOX đạt 26 mg/l, vượt 1,73 lần so với tiêu chuẩn quy định 15 mg/l.

Khảo sát hiện trạng trạm xử lý cũ công suất 150 mét khối mỗi ngày đêm phát hiện tình trạng quá tải thủy lực lên tới 266,7% khi phải tiếp nhận lưu lượng thực tế 550 mét khối mỗi ngày đêm. Thời gian lưu nước thực tế tại hố thu gom chỉ đạt 5,23 phút ở lưu lượng đỉnh, giảm 47,7% so với mức yêu cầu tối thiểu 10 phút. Bể điều hòa thể tích 43,75 mét khối chỉ duy trì thời gian lưu nước 1,9 giờ, thiếu hụt tới 68,3% so với khoảng thời gian thiết kế tiêu chuẩn từ 6 đến 8 giờ. Bể Aerotank thể tích 52,5 mét khối có thời gian lưu thực tế là 2,3 giờ, thấp hơn 42,5% so với ngưỡng cận dưới 4 giờ theo TCXDVN 51:2008, khiến hiệu suất xử lý sinh học sụt giảm nghiêm trọng.

Về phương diện cơ khí và hạ tầng, hệ thống cũ ghi nhận sự xuống cấp nghiêm trọng với hiện tượng sụt lún nền móng bể điều hòa, motor cánh khuấy bể keo tụ bị tê liệt hoàn toàn, phao cảm biến định lượng hỏng hóc và hai bơm chìm công suất nhỏ phải chạy liên tục 24/24 gây nguy cơ chập cháy. Phân tích dòng dinh dưỡng xác định nước thải ngành giấy rất nghèo nitơ và photpho, đòi hỏi phải bổ sung cưỡng bức 1,2 gram phân đạm urê và 2,0 gram phân lân trên mỗi mét khối nước thải để duy trì tỷ lệ tối ưu BOD:N:P xấp xỉ 100:5:1 cho bùn hoạt tính.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự quá tải và thất bại của hệ thống xử lý hiện hữu xuất phát từ việc công ty tăng gấp 3,5 lần sản lượng carton nhưng không cải tạo hạ tầng môi trường tương xứng. Nước thải từ công đoạn xeo giấy chứa hàm lượng rất lớn sợi vụn cellulose, bột đá gia trọng, tinh bột biến tính và chất định hình làm cho độ đục và tải lượng hữu cơ tăng đột biến. Cấu trúc mạch vòng phenol phân nhánh trong dịch ngâm giấy phế liệu làm tăng tính bền vững trước sự phân hủy tự nhiên của vi sinh vật hoại sinh nếu thời gian lưu bùn không đủ lớn.

Dữ liệu quan trắc có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh đa thông số thể hiện sự chênh lệch vượt bậc giữa nồng độ chất ô nhiễm đầu vào so với tiêu chuẩn cột B của QCVN 12:2008/BTNMT, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu thời gian lưu nước thực tế và thời gian lưu nước lý thuyết của 7 hạng mục đơn nguyên. So sánh với các mô hình xử lý nước thải giấy quốc tế như Nhà máy Roemond tại Hà Lan hay mô hình xử lý giấy Eerbeek, việc kết hợp quá trình keo tụ hóa lý trước khi đi vào bể bùn hoạt tính hiếu khí giúp giảm thiểu 70% tải trọng cặn lơ lửng, ngăn ngừa hiện tượng nghẹt bùn và tăng hiệu quả oxy hóa chất hữu cơ lên thêm 35% so với phương pháp sinh học đơn thuần.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, xây dựng mới toàn diện trạm xử lý nước thải công suất 550 mét khối mỗi ngày đêm với công nghệ kết hợp Hóa lý và Sinh học hiếu khí Aerotank trên diện tích đất dự trữ 3.514,9 mét vuông của nhà máy. Chủ thể thực hiện là Ban Giám đốc phối hợp với nhà thầu kỹ thuật môi trường, mốc thời gian hoàn thành xây dựng và chạy thử nghiệm vi sinh trong vòng 6 tháng, cam kết đưa các thông số COD về dưới 200 mg/l và BOD5 về dưới 50 mg/l.

Thứ hai, lắp đặt hệ thống thu gom và tách sợi cellulose tự động gồm lưới chắn rác tinh dạng trống quay ngay sau hố thu gom nhằm giữ lại khoảng 3.000 kg bột giấy vụn mỗi ngày (tương đương 5% tổng nguyên liệu thô). Giải pháp này do Phân xưởng Xeo giấy phụ trách trong 2 tháng đầu, giúp giảm 45% tải lượng TSS và 25% COD trước khi nước thải đi vào bể điều hòa, mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho doanh nghiệp.

Thứ ba, tự động hóa quy trình châm hóa chất bằng bơm định lượng điện tử, kiểm soát nghiêm ngặt liều lượng PAC 0,874 kg/m3 ở ngưỡng pH trung hòa 7,0, cùng dung dịch polymer trợ lắng 2 mg/l và hệ châm dinh dưỡng 1,2 g/m3 urê kết hợp 2,0 g/m3 phân lân. Đội ngũ kỹ sư vận hành trạm môi trường chịu trách nhiệm kiểm tra định kỳ 2 giờ một lần, duy trì nồng độ bùn hoạt tính MLSS ở mức 3.000 mg/l và chỉ số thể tích bùn SVI trong khoảng 80 đến 120 ml/g.

Thứ tư, chuẩn hóa quy trình phân loại và lưu trữ chất thải rắn phát sinh, tách riêng 50 kg rác sinh hoạt mỗi ngày, 100 kg bùn cát vô cơ và 169 kg chất thải nguy hại mỗi tháng (bao gồm 50 kg giẻ lau dính dầu, 45 kg dầu nhớt thải và 45 kg bao bì hóa chất). Bộ phận An toàn Môi trường phối hợp ký hợp đồng thu gom định kỳ với các đơn vị xử lý có chức năng pháp lý mỗi quý một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư công nghệ môi trường và đơn vị tư vấn thiết kế trạm xử lý nước thải là đối tượng tiếp nhận trực tiếp các thông số tính toán thực tế. Dữ liệu kích thước công trình, lưu lượng tính toán cực đại 68,75 m3/h, công suất máy thổi khí và thời gian lưu thủy lực chuẩn xác cho dòng thải 550 m3/ngày đêm sẽ là cơ sở quy chuẩn để áp dụng cho các dự án xử lý nước thải công nghiệp giấy quy mô vừa.

Ban giám đốc và cán bộ quản lý kỹ thuật của các nhà máy sản xuất giấy bao bì carton tái sinh có thể khai thác tài liệu này như một cẩm nang chuyển đổi công nghệ. Nghiên cứu cung cấp bài toán cân bằng vật chất, phương án thu hồi bột giấy tiết kiệm chi phí và lộ trình cải tạo hệ thống xử lý khi nâng công suất từ 10 tấn lên 35 tấn sản phẩm mỗi ngày mà không làm gián đoạn dây chuyền sản xuất.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Công nghệ Kỹ thuật Môi trường và Công nghệ Sinh học có thể sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật chuyên sâu. Bản luận văn minh họa chi tiết phương pháp đánh giá hiện trạng ô nhiễm thực địa, quy trình kiểm toán dòng thải và các bước tính toán công trình đơn nguyên từ song chắn rác đến bể lắng thứ cấp theo tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành.

Ban quản lý các khu công nghiệp tập trung và cơ quan thanh tra tài nguyên môi trường có thể tham khảo nguồn số liệu phát thải đặc thù của quy trình tái chế giấy để xây dựng tiêu chí giám sát đấu nối dòng thải cục bộ, đồng thời hoàn thiện quy hoạch phân vùng bảo vệ nguồn tiếp nhận nước mặt xung quanh lưu vực KCN Tân Phú Trung và huyện Củ Chi.

Câu hỏi thường gặp

Nước thải sản xuất giấy tái chế chứa hàm lượng chất ô nhiễm nào nguy hại nhất? Nước thải tái chế giấy có nồng độ chất rắn lơ lửng TSS lên tới 614 mg/l và COD đạt 3.582 mg/l. Các sợi vụn cellulose và lignin khó phân hủy tạo thành màng hữu cơ bền vững làm suy giảm triệt để lượng oxy hòa tan, đe dọa trực tiếp sự sống của thủy sinh vật nếu không qua xử lý.

Tại sao trạm xử lý nước thải cũ công suất 150 mét khối mỗi ngày đêm lại mất hoàn toàn khả năng làm sạch? Trạm xử lý cũ bị quá tải tới 266,7% khi lưu lượng thực tế tăng lên 550 mét khối mỗi ngày đêm. Thời gian lưu nước của bể điều hòa giảm xuống còn 1,9 giờ và bể hiếu khí còn 2,3 giờ, khiến vi sinh vật không kịp chuyển hóa cơ chất hữu cơ và làm dòng thải đầu ra vượt chuẩn.

Vai trò của hóa chất PAC và chất dinh dưỡng bổ sung trong công nghệ mới là gì? PAC với liều lượng 0,874 kg/m3 ở pH 7,0 giúp đông tụ các hạt keo màu và sợi mịn thành bông cặn lắng được. Việc bổ sung 1,2 g/m3 urê và 2,0 g/m3 lân bù đắp sự thiếu hụt nguyên tố đa lượng, giúp vi sinh vật hiếu khí duy trì hoạt tính phân hủy sinh học tối ưu.

Giải pháp thu hồi bột giấy qua lưới lọc trống quay mang lại hiệu quả kinh tế ra sao? Lưới lọc tinh trống quay tách và giữ lại khoảng 3.000 kg giấy vụn mỗi ngày, tương đương 5% tổng nguyên liệu đầu vào. Lượng sợi này được tái tuần hoàn trực tiếp về hồ khuấy bột, vừa tiết kiệm hàng trăm triệu đồng chi phí nguyên liệu vừa giảm 45% tải lượng cặn vào bể lắng.

Chất lượng nước thải sau xử lý của hệ thống thiết kế mới đạt tiêu chuẩn nào trước khi xả thải? Toàn bộ dòng thải sau khi qua bể lắng 2 đạt đầy đủ các thông số loại B theo QCVN 12:2008/BTNMT với COD dưới 200 mg/l, BOD5 dưới 50 mg/l và TSS dưới 100 mg/l. Nước thải sau đó được đấu nối an toàn vào trạm xử lý tập trung của KCN Tân Phú Trung.

Kết luận

  • Công trình giải quyết triệt để bài toán quá tải môi trường cho công suất xả thải 550 mét khối mỗi ngày đêm tại nhà máy giấy Tân Nhật Dũng.
  • Toàn bộ các thông số ô nhiễm cực hạn như COD 3.582 mg/l, BOD5 1.163 mg/l và TSS 614 mg/l được xử lý đạt chuẩn loại B QCVN 12:2008/BTNMT.
  • Thiết lập quy trình công nghệ kết hợp keo tụ PAC tối ưu 0,874 kg/m3 và bùn hoạt tính hiếu khí Aerotank vận hành ổn định.
  • Tận thu mỗi ngày 3.000 kg bột giấy tái sinh, giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất và giảm tải cho công trình xử lý phía sau.
  • Bản thiết kế cung cấp đầy đủ bảng tính thủy lực chi tiết, danh mục thiết bị và dự toán kỹ thuật sẵn sàng cho công tác thi công thực địa.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một giải pháp công nghệ xử lý nước thải khả thi, hiệu quả kinh tế cao và phù hợp với đặc thù quy mô sản xuất carton tại Việt Nam. Lộ trình triển khai tiếp theo cần tập trung vào việc hoàn tất thi công xây dựng trong 6 tháng, lắp đặt máy thổi khí, nuôi cấy vi sinh vật thích nghi trong 3 tuần và kiểm tra định kỳ chất lượng nước đầu ra. Các doanh nghiệp sản xuất giấy carton tái sinh đang đứng trước áp lực mở rộng công suất và kiểm soát ô nhiễm hãy áp dụng ngay mô hình công nghệ kết hợp này để đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và tuân thủ tuyệt đối quy định pháp luật môi trường.