Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Gồm những nội dung: lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu.
Gồm những nội dung về một số lý thuyết về kinh doanh, khởi sự kinh doanh và ý định khởi sự kinh doanh của thanh niên. Lược khảo các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó đánh giá, nhận định những hạn chế còn thiếu sót và đề xuất ra mô hình nghiên cứu. Các thành phần liên quan đến ý định khởi sự kinh doanh bao gồm: Thái đô ̣ cá nhân; Chuẩ n mực chủ quan; Nhâ ̣n thức kiể m soát hành vi; Kinh nghiê ̣m bản thân; Chính sách của Chính phủ; Nguồ n vố n sản xuấ t. Phương pháp nghiên cứu.
Những nội dung bao gồm trình bày phương pháp nghiên cứu chi tiết; phương pháp thu thập dữ liệu định tính và định lượng; Thiết kế và hiệu chỉnh thang đo; xác định cỡ mẫu và phương pháp phân tích, thống kê dữ liệu bằng SPSS 20. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Gồm những nội dung về phân tích dữ liệu, kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá, phân tích tương quan và hồi quy; trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách.
Những nội dung gồm: tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy ý định khởi sự kinh doanh của thanh niên trên địa bàn thành phố Cà Mau. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Mô ̣t số khái niêm ̣ 2. Thanh niên Điều 4 Luật Thanh niên 2020 quy định về vai trò, cũng như các quyền và nghĩa vụ của thanh niên.
Cụ thể: Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên có quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Dưới góc độ kinh tế học, thanh niên được xem là một lực lượng lao động xã hội, nguồn bổ sung cho đội ngũ lao động trên tất cả các lĩnh vực. Với các triết gia, văn nghệ sĩ, thanh niên lại được định nghĩa bằng cách so sánh hình tượng: “thanh niên là mùa xuân của xã hội” là “bình minh của cuộc đời”.
Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung, ý nghĩa nêu trên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15, 16 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu 5 từ 15 hoặc 16.
Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 tuổi và cũng có nước cho đó là tuổi 40. Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên. Liên Hợp Quốc định nghĩa thanh niên là nhóm người từ 15 đến 24 tuổi chủ yếu dựa trên cơ sở phân biệt các đặc điểm về tâm sinh lý và hoàn cảnh xã hội so với các nhóm lứa tuổi khác.
Nhưng cũng Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về quyền trẻ em lại xác định trẻ em đến dưới 18 tuổi. Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồng nhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi). Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiều đặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30. Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên.
Theo điều lệ Đoàn thì Đoàn là một tổ chức chính trị xã hội của thanh niên, bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30. Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạt động khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi. Với cách hiểu chung nhất về tuổi thanh niên như vậy nhưng do những điều kiện khách quan của công tác thống kê tập hợp số liệu nên trong đề tài này, tùy nội dung phân tích, khai thác và có chỗ phải sử dụng số liệu theo cách hiểu truyền thống, có chỗ phải sử dụng số liệu do các sở ngành cung cấp, hoặc có chỗ sử dụng số liệu tổng hợp của Đoàn, của Hội… nhưng tựu chung đều nhằm mục đích khắc họa được tình hình và diện mạo của thanh niên tỉnh Cà Mau hiện nay một cách khách quan, khoa học. Khởi sư ̣ kinh doanh Có nhiều quan điểm trái ngược nhau khi lý giải về nguyên nhân dẫn tới hành vi khởi sự kinh doanh (KSKD).
Theo trường phái nghiên cứu của Peter Drucker, Knight cho rằng, KSKD là chức năng của thị trường, khi có sự chênh lệch giữa cung và cầu thị trường tạo ra cơ hội kinh doanh thì các cá nhân dù là ai, đã có sự chuẩn bị hay chưa sẽ tận dụng cơ hội đó và hoạt động KSKD sẽ diễn ra (Annamária, 2012.) Nhiều học giả khác như Baron (1998), Bird (1988) lại cho rằng, KSKD là một quá trình, đó là kết quả của một loạt các sự kiện, hành động có trình 6 tự nhất định và chịu tác động bởi nhiều yếu tố bối cảnh. Để hoạt động KSKD được diễn ra, các cá nhân phải có sự chuẩn bị về kiến thức, tinh thần và nhiều điều kiện khác, không phải cá nhân nào cũng có thể tận dụng cơ hội thị trường để KSKD (Nguyễn Thu Thủy, 2015). Khởi sự là việc bắt đầu một thứ gì đó mang tính mới, nên cụm từ “khởi sự kinh doanh” (KSKD) được hiểu là sự bắt đầu tạo lập một công việc kinh doanh mới. Một số người bắt đầu việc kinh doanh của mình từ việc rất bình thường như bắt đầu nghề mua bán hoa quả ở chợ, kinh doanh quần áo qua mạng, hay một thanh niên mới ra trường bắt đầu tạo dựng sự nghiệp kinh doanh cho riêng mình.
Ngoài ra, cụm từ “khởi sự kinh doanh” cũng được đa số mọi người hiểu theo nghĩa “khởi sự doanh nghiệp” hay “khởi nghiệp kinh doanh”. Trong nghiên cứu này, “khởi sự kinh doanh” được nhắc đến như là “khởi sự doanh nghiệp” hay “khởi nghiệp kinh doanh” với ý tưởng kinh doanh xuất phát từ cá nhân hay nhóm cá nhân có cùng ý tưởng, chung mục tiêu xây dựng doanh nghiệp mang tầm vóc lớn trong tương lai nhưng với xuất phát điểm từ một doanh nghiệp nhỏ, vừa mới thành lập. Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật, Khởi sự kinh doanh là một khái niệm đa chiều. Nó có thể là việc mở một doanh nghiệp mới “start a new business” (Krueger, 1994); hay là tạo lập công việc kinh doanh mới “new venture creation” (Lowell, 2003); việc tự làm chủ, tự kinh doanh (Laviolette, 2012).
Như vậy, rõ ràng rằng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì khởi sự kinh doanh được gắn với các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau. Cụ thể, KSKD được gắn chủ yếu với hai nghĩa và hai hướng nghiên cứu chính sau: - Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động thì cho rằng, KSKD là một sự lựa chọn nghề nghiệp cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc làm cho mình nên gắn khởi sự kinh doanh với thuật ngữ “tự tạo việc làm - self employment” (Kolvereid, 1996). Theo hướng nghiên cứu này, KSKD là lựa chọn nghề nghiệp của những người không sợ rủi ro tự làm chủ công việc kinh doanh của chính mình và thuê người khác làm công cho họ (Linan và Chen, 2006). Làm thuê được hiểu là cá nhân sẽ làm việc cho một doanh nghiệp hoặc tổ chức do người khác làm chủ.
Như 7 vậy, KSKD được hiểu là tự tạo việc làm theo nghĩa trái với đi làm thuê, là tự làm chủ - tự mở doanh nghiệp và thuê người khác làm việc cho mình. - Trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh, KSKD gắn với thuật ngữ “tinh thần doanh nhân - entrepreneurship” và các nghiên cứu trong lĩnh vực này (Greve và Salaff, 2003). “Entrepreneurship - tinh thần doanh nhân” cũng được hiểu và định nghĩa khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, “tinh thần doanh nhân” là việc một cá nhân bắt đầu khởi sự công việc kinh doanh của riêng mình (Begley và Tan, 2001), hay là việc một cá nhân chấp nhận rủi ro để tạo lập một công việc kinh doanh mới bằng cách đầu tư vốn kinh doanh, hay mở cửa hàng kinh doanh (Mac Millan, 1993).
Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì tinh thần doanh nhân lại là một thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và chấp nhận rủi ro tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại (Bird, 1988); là sự đổi mới, là một phong cách nhận thức và suy nghĩ (Mac Millan, 1993); là dự định phát triển nhanh (Lowell, 2003). Hiện nay các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn rất đa dạng trong khái niệm và khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân. Tinh thần doanh nhân với nghĩa rộng thường được các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và quản trị chiến lược. Theo MacMillan (1991), “khởi sự kinh doanh” còn được cho là xuất phát từ cụm từ “entrepreneurship” bao gồm những hoạt động của cá nhân muốn trở thành doanh nhân “entrepreneur”.