CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘNG LỰC CHO SỰ SẴN SÀNG KHỞI NGHIỆP XANH 1. Cơ sở lý luận về khởi nghiệp xanh Theo MacMillan (1993), khởi nghiệp là việc cá nhân chấp nhận mọi rủi ro để tạo lập doanh nghiệp mới hoặc mở cửa hàng kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và làm giàu. Khoảng những năm 1960, do hậu quả của quá trình công nghiệp hóa và sự suy thoái môi trường khiến các nước phát triển dần đưa ra các quy định nhằm bảo vệ môi trường, từ đó dẫn đến hoạt động khởi nghiệp xanh (Green Entrepreneur/ Green Startup) bắt đầu xuất hiện (Jiang và cộng sự, 2018). Theo thời gian, nhiều định nghĩa về khởi nghiệp xanh xuất hiện và được diễn đạt theo tư duy của các nhà nghiên cứu khác nhau.
Khởi nghiệp xanh là hoạt động kinh doanh liên quan đến các giải pháp bảo vệ môi trường và tạo ra các sản phẩm có giá trị cho môi trường, đồng thời những đổi mới của hoạt động này có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường đại chúng (Schaltegger, 2002). Cụ thể, Khởi nghiệp xanh được định nghĩa là hoạt động khởi nghiệp kết hợp nhận thức về môi trường với các hành động kinh doanh, là động lực quan trọng trong quá trình chuyển đổi hướng tới mô hình kinh doanh bền vững (business sustainability) (Gibbs và O’Neill, 2014). Theo Dean và McMullen (2007), quá trình phát hiện, đánh giá và khai thác các cơ hội kinh tế có trong sự thất bại của thị trường liên quan đến môi trường được gọi là khởi nghiệp xanh. Schuyler (1998) cho rằng khởi nghiệp xanh là hành động của các doanh nhân có nỗ lực kinh doanh không chỉ vì lợi nhuận mà còn quan tâm đến môi trường.
Khởi nghiệp xanh cũng được coi là một cách thức sáng tạo để đạt được mục tiêu là sử dụng các nguồn tài nguyên vào việc phát triển mô hình sản xuất - tiêu dùng đa dạng và bền vững nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống cao trên toàn thế giới mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai (Richomme-Huet và de Freyman, 2014). Hoạt động khởi nghiệp xanh tập trung vào việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến thiên nhiên và hỗ trợ cuộc sống con người thông qua việc cung cấp các sản phẩm xanh (Jolink và Niesten, 2015). Tóm lại, khởi nghiệp xanh là hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên để tạo ra các giải pháp và sản phẩm xanh mang lại tác động 2 tích cực cho môi trường và xã hội, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Cơ sở lý luận về sự sẵn sàng khởi nghiệp xanh Xét trên khía cạnh kinh tế học, “sự sẵn sàng khởi nghiệp” được dựa trên cơ sở lý thuyết hành vi của người sản xuất với sự sẵn sàng cung ứng (sẵn sàng bán) hàng hóa dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất.
Sự sẵn sàng bán là mức giá thấp nhất mà người sản xuất sẵn sàng cung ứng hàng hóa dịch vụ, được đo lường bằng tất cả các chi phí người bán phải từ bỏ để sản xuất ra hàng hóa dịch vụ (Mankiw, 2011). Thặng dư nhà sản xuất là số tiền người bán được trả cho một hàng hóa trừ đi chi phí biến đổi để cung cấp nguồn lực sản xuất ra hàng hóa đó của người bán. Trong bối cảnh doanh nghiệp khởi nghiệp, lý thuyết này có mối liên hệ mật thiết với sự sẵn sàng khởi nghiệp. Khi một doanh nghiệp khởi nghiệp xác định mức giá cho sản phẩm hoặc dịch vụ của mình, họ cần phải hiểu rõ “sự sẵn sàng bán” của mình để đảm bảo rằng giá bán đủ để trang trải chi phí sản xuất, chi phí hoạt động và mang lại lợi nhuận.
Định giá quá thấp có thể không bù đắp đủ chi phí, trong khi định giá quá cao có thể khiến khách hàng tiềm năng từ chối mua hàng. Từ đó, tinh thần khởi nghiệp được định nghĩa là khả năng sáng tạo của các cá nhân nhằm tìm kiếm lợi nhuận bằng cách chấp nhận rủi ro và kết hợp các nguồn lực để tạo ra các sản phẩm sáng tạo. Doanh nhân là người có động cơ tìm kiếm lợi nhuận bằng cách thực hiện các hoạt động mạo hiểm như bắt đầu kinh doanh mới, tạo ra sản phẩm mới hoặc phát minh ra những cách mới để hoàn thành mục tiêu. Người có tinh thần khởi nghiệp là một nguồn nhân lực khan hiếm vì rất ít người sẵn sàng đưa ra các quyết định có khả năng thất bại cao hơn bình thường.
Một lợi ích quan trọng của tinh thần khởi nghiệp là nó tạo ra một nền kinh tế phát triển năng động (Irvin B. Xét trên khía cạnh quản trị học, nghiên cứu của Bird (1988) đã chỉ ra rằng sự sẵn sàng khởi nghiệp là một trạng thái tinh thần mà các cá nhân phấn đấu đạt được mục tiêu của mình và có thể ảnh hưởng đến hành vi khởi nghiệp. Sự sẵn sàng khởi nghiệp được xác định bởi một loạt các yếu tố tâm lý, xã hội và khả năng quản trị kinh doanh giúp phân biệt các cá nhân có sẵn sàng khởi nghiệp hay không; những cá nhân đó có khả năng quan sát và phân tích môi trường theo cách mà họ có thể khai thác sự sáng tạo và năng suất của mình để phát huy khả năng dám làm và mong muốn đạt được thành tựu của bản thân (Ruiz, Ribeiro và Coduras, 2016). Theo nghiên cứu của Đỗ Thị Hoa Liên 3 (2022), sẵn sàng khởi nghiệp là sự sẵn lòng và mong muốn của cá nhân đáp ứng các hoạt động khởi nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức của mình.
Dựa trên Lý thuyết nhận thức xã hội, Lau và cộng sự (2012) định nghĩa sự sẵn sàng khởi nghiệp là tiêu chuẩn nhận thức của một cá nhân, bao gồm sự sẵn sàng về năng lực và định hướng hành vi trong bối cảnh kinh doanh. Cụ thể, sự sẵn sàng khởi nghiệp của cá nhân được định nghĩa là sự kết hợp của một tập hợp các đặc điểm cá nhân giúp phân biệt những cá nhân sẵn sàng khởi nghiệp - những người có khả năng quan sát và phân tích môi trường. Sự sẵn sàng khởi nghiệp phụ thuộc vào năng lực tư duy của mỗi cá nhân đối với hoạt động kinh doanh. Đến nay chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về lý thuyết sự sẵn sàng khởi nghiệp xanh.
Một nghiên cứu của Macke và Markley (2003) cho thấy những người sẵn sàng khởi nghiệp kinh doanh có khả năng khám phá lĩnh vực mới, những ý tưởng kinh doanh và chương trình khởi nghiệp mới, sự sẵn sàng đầu tư và khả năng thành lập đội ngũ khởi nghiệp. Đối với hoạt động khởi nghiệp xanh cũng tương tự, bằng những kiến thức, kinh nghiệm và sự hiểu biết về môi trường, sự sẵn sàng khởi nghiệp xanh được hình thành và thúc đẩy các cá nhân khởi nghiệp xanh. Sự sẵn sàng khởi nghiệp xanh có mối tương quan mật thiết giữa việc mong muốn đạt được mục tiêu kinh doanh và nhận thức, tư duy về môi trường. Dựa trên lý thuyết về sự sẵn sàng khởi nghiệp, các cá nhân khởi nghiệp xanh sẽ phát triển ý tưởng khởi nghiệp xanh bằng việc sử dụng năng lực tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới, mong muốn ứng dụng ý tưởng đã nghĩ ra vào thực tế, linh hoạt thay đổi cách thức, chiến thuật thực hiện khi gặp thất bại, tinh thần dám nghĩ dám làm, dám mạo hiểm là những yếu tố tinh thần của mỗi cá nhân khi quyết định khởi nghiệp xanh (Ambad và Damit, 2016).
Cơ sở lý luận về động lực Nghiên cứu động lực có thể được bắt nguồn từ công trình của Maslow (1946) về những nền tảng của lý thuyết động lực. Động lực là một phần rất quan trọng trong cuộc sống, là sự phối hợp giữa các quy định ràng buộc về mặt sinh học, nhận thức và xã hội. Động lực có liên quan chặt chẽ đến nguồn năng lượng, sự định hướng, tính bền bỉ và ý định thực hiện một hành động của mỗi cá nhân (Ryan RM và Deci EL, 2005). Lý thuyết về sự tự quyết (Self-Determination Theory - SDT) (Deci EL và Ryan RM, 1985), cho rằng, động lực là nền tảng cho việc theo đuổi một hành vi, thúc đẩy một cá nhân hành động.
Theo đó động lực có vai trò quan trọng trong việc dự báo ý định hành vi của con 4 người. Cùng nghiên cứu về động lực khởi nghiệp, Mahemdra AM, Djatmika ET và Hermawan A (2017) chỉ ra rằng, động lực khởi nghiệp là sự khuyến khích bản thân thông qua các yếu tố bên trong và bên ngoài nhằm thúc đẩy ý định khởi nghiệp của mỗi cá nhân, và được xem là tiền đề để tạo lập một doanh nghiệp mới. Các yếu tố động lực được coi là quyết định cho sự khởi đầu và tiếp tục kinh doanh của một cá nhân (Barba-Sánchez và Atienza-Sahuquillo, 2018; Kusa và cộng sự, 2021; Stevenson và Jarillo, 1990). Động lực khởi nghiệp là yếu tố quan trọng để khuyến khích và thúc đẩy các doanh nhân hướng tới thành công trong kinh doanh (Ephrem và cộng sự, 2021).
Động lực khởi nghiệp là những mục tiêu mà doanh nhân tìm cách đạt được khi thành lập doanh nghiệp (Eijdenberg và Masurel, 2013). Theo truyền thống, lý do để bắt đầu một doanh nghiệp thường vì mục đích kinh tế (Schumpeter, 1934). Vào thế kỷ 19, Jean Bertrand Say định nghĩa doanh nhân là một người làm điều gì đó vì lợi ích kinh tế, và khái niệm đó tồn tại và được kế thừa trong nhiều nghiên cứu sau này (Carsrud và Brännback, 2009). Một số nghiên cứu gần đây tìm ra rằng ngoài lợi ích kinh tế có thể có những động lực khác để thúc một người tạo ra một doanh nghiệp (Venesaa, 2006; Sherlywati Sherlywati và Eliot Simangunsong, 2023; Giacomin và cộng sự, 2011).
Các nghiên cứu thừa nhận rằng các danh nhân có thể được thúc đẩy bởi mục tiêu và động lực, thực sự có thể là kinh tế, nhưng không nhất thiết phải tối đa hóa lợi ích kinh tế. Cơ sở lý luận về Gen Y và Gen Z 1. Cơ sở lý luận về Gen Y Chhetri và cộng sự (2014) phân loại Gen Y là thế hệ lớn tuổi nhất từ năm 1977 đến trẻ nhất vào năm 1994. Một nghiên cứu khác của Martin (2005) cho rằng thế hệ Gen Y là những người có năm sinh từ 1978 đến 1998, trong khi Srisathan và cộng sự (2022) sử dụng độ tuổi thường dùng cho Gen Y là 27 đến 41 tuổi.
Theo Dimock (2018), Gen Y là những người sinh từ năm 1981 đến năm 1996. Một số bài nghiên cứu khác sử dụng giới hạn năm sinh trẻ nhất của Gen Y là 2000 (Barhate và Dirani, 2022). Theo Lau (2015), Gen Y tập trung chịu trách nhiệm định hình thế giới tương lai.