chương 1, chương 2 giới thiệu các khái niệm, định nghĩa liên quan đến lĩnh vực khởi nghiệp, các lý thuyết liên quan đến ý định khởi nghiệp cũng như giới thiệu các nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề khởi nghiệp. Từ đó tạo tiền đề để làm cơ sở cho tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp lại của những người đã từng khởi nghiệp nhưng thất bại tại thành phố Hồ Chí Minh. Các khái niệm trong nghiên cứu 2. Khởi nghiệp (khởi sự kinh doanh – entrepreneurship) Khởi nghiệp là một khái niệm rộng lớn.
Khi nói đến khởi nghiệp, ta có thể nghĩ đến điểm mốc bắt đầu đi theo một nghể nghiệp nào đó sau khi rời khỏi ghế nhà trường với vị trí có thể chỉ là làm thuê. Khởi nghiệp cũng có thể được hiểu là bắt đầu đứng ra làm chủ doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp hoặc từ vị trí làm thuê vươn lên làm chủ doanh nghiệp, có khả năng thuê người khác làm cho mình. Trong nghiên cứu này, khởi nghiệp được hiểu là khởi sự kinh doanh, là thành lập, quản lí và điều hành một doanh nghiệp mới có thuê lao động, theo dạng doanh nghiệp vừa và nhỏ (Hoàng Thị Phương Thảo và Bùi Thanh Chi 2013). Còn Kirzner (1973) thì cho rằng khả năng để phát hiện và khai thác các lợi thế từ sự khác biệt về giá giữa các thị trường là một dạng khởi nghiệp.
Theo Shapero và Sokol (1982) thì tinh thần khởi nghiệp là quá trình mà cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt các cơ hội kinh doanh hấp dẫn và khả thi mà họ nhận biết được. Khởi nghiệp là một hành động kinh doanh có thể được coi là khởi đầu thay đổi, bởi vì khởi nghiệp phát triển các cơ hội đổi mới mở rộng thị trường hiện có hoặc tạo ra những thị trường mới (Henley và cộng sự, 2017). Trong nghiên cứu này, định nghĩa khởi nghiệp lại được hiểu là một hoạt động khởi nghiệp được thực hiện lại lần nữa sau khi khởi nghiệp lần trước đó thất bại. Ý định khởi nghiệp Ý định khởi nghiệp có thể được định nghĩa là sự liên quan ý định của một cá nhân để bắt đầu một doanh nghiệp (Vangelis Souitaris và cộng sự, 2007), là một quá trình định hướng việc lập kế hoạch và triển khai thực hiện một kế hoạch tạo lập doanh nghiệp (Gupta và Bhawe, 2007).
Ý định khởi nghiệp của một cá nhân bắt nguồn từ việc họ nhận ra cơ hội, tận dụng các nguồn lực có sẵn và sự hỗ trợ của môi trường để tạo lập doanh nghiệp của riêng mình (Andreas Kuckertz và Wagner, 2010). Ý định khởi nghiệp đã được nghiên cứu từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một trong những cách phổ biến nhất là xem các ý định mạo hiểm kinh doanh là hành vi có kế hoạch, phụ thuộc vào sự kiểm soát hành động của con người (Fishbein và Ajzen, 2011). Theo TPB, một trong những thành phần quan trọng nhất trong việc thực hiện một hành động là ý định thực hiện nó (Ajzen và Fishbein, 2005).
TPB cho rằng ý định khởi nghiệp phụ thuộc vào ba yếu tố (Krueger và cộng sự, 2000). Đầu tiên là sự mong muốn được nhận thức, đó là thái độ hoặc mức độ hấp dẫn mà một cá nhân thích đối với tinh thần khởi nghiệp. Thứ hai là tính khả thi được nhận thức, đó là năng lực tự nhận thức của một cá nhân để thực hiện khởi nghiệp, thường được đo lường bằng thước đo hiệu quả bản thân, nhưng trong các phiên bản đầu tiên của TPB được thể hiện dưới dạng kiểm soát hành vi nhận thức (Ajzen, 1991). Thứ ba là các chuẩn mực xã hội, mức độ nhận thức về áp lực chuẩn mực xã hội và niềm tin về việc áp dụng loại hành vi này (Ajzen và Fishbein, 2005; Krueger và cộng sự, 2000).
Gartner (1988) đưa ra định nghĩa ý định khởi nghiệp là việc tìm kiếm thông tin và những nguồn lực khác để khởi nghiệp. Theo Krueger và cộng sự (2000), ý định là một yếu tố dự báo trước và có ý nghĩa về hành vi khởi nghiệp của một người. Thuyết hành vi hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA) Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein, (1975) xây dựng từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 và được hiệu chỉnh mở rộng trong Trang 8 thập niên 70. Theo TRA, quyết định hành vi là yếu tố quan trọng nhất dự đoán hành vi tiêu dùng.
Quyết định hành vi bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: thái độ và ảnh hưởng xã hội. Mà theo đó, thái độ đối với quyết định là biểu hiện yếu tố cá nhân thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của người tiêu dùng đối với của sản phẩm; còn ảnh hưởng xã hội thể hiện ảnh hưởng của mối quan hệ xã hội lên cá nhân người tiêu dùng. Mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA (Nguồn: Ajzen và Fishbein, 1975) 2. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) Thuyết hành vi dự định (TPB) được Ajzen (1991) phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Ajzen và Fishbein (1975) và giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó.
Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó.
Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp Trang 9 đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Mô hình lý thuyết hành vi dự định (Nguồn: Ajzen, 1991) 2.
Mô hình dự đoán hành vi của Shapero và Sokol (1982) Sau khi phản ánh khiêm tốn, rõ ràng là mô hình của "Sự kiện Doanh nhân" của Shapero và Sokol (1982) là một mô hình ý định ngầm, đặc trưng cho lĩnh vực kinh doanh. Trong SEE, những ý định bắt đầu một doanh nghiệp xuất phát từ nhận thức về mong muốn và tính khả thi và từ khuynh hướng hành động theo cơ hội. Mô hình của Shapero giả định rằng quán tính hướng dẫn hành vi của con người cho đến khi một cái gì đó ngắt hoặc "chuyển chỗ" quán tính đó. Thay thế thường là tiêu cực, chẳng hạn như mất việc làm hoặc ly hôn, nhưng nó có thể dễ dàng được tích cực, chẳng hạn như nhận được một thừa kế hoặc trúng xổ số.
Sự chuyển hướng thúc đẩy sự thay đổi hành vi nơi người ra quyết định tìm kiếm cơ hội tốt nhất có sẵn từ một loạt các lựa chọn thay thế (J. Việc lựa chọn hành vi phụ thuộc vào sự tin cậy tương đối của các hành vi thay thế (trong trường hợp này đối với người ra quyết định này) cộng với một số "khuynh hướng hành động" (mà không có hành động đáng kể nào không được thực hiện). "Sự tin cậy" yêu cầu một hành vi được coi là cả mong muốn và khả thi. Các sự kiện kinh doanh do đó đòi hỏi tiềm năng để bắt đầu một doanh nghiệp (uy tín và khuynh hướng hành động) tồn tại trước khi chuyển đi và khuynh hướng hành động sau đó.
Mô hình dự đoán hành vi SEE (Nguồn: Shapero và Sokol, 1982) Cũng giống như TPB, ngoại sinh không ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hoặc hành vi. Họ hoạt động thông qua nhận thức về tình hình và tính khả thi của con người. Trong một nghiên cứu gần đây nhận thấy tính khả thi, mong muốn được nhận thức, và xu hướng hành động giải thích một cách khác biệt nửa phương sai trong ý định hướng tới tinh thần kinh doanh; tính khả thi giải thích phương sai nhất (Krueger, 1993). Shapero và Sokol (1982) cung cấp bằng chứng về cách nhận thức là rất quan trọng trong quá trình này.
Các sự kiện cuộc sống đáng kể (mất việc làm, di cư, vv) có thể kết tủa tăng đáng kể trong hoạt động kinh doanh. Những người sáng lập đã không thay đổi, chỉ có những nhận thức về hoàn cảnh “mới”. Khả năng kinh doanh tiềm ẩn đã tồn tại rõ ràng, nhưng tiềm năng cần thiết phải di dời lên bề mặt. Shapero và Sokol (1982) cũng cung cấp các ví dụ về các sáng lập công ty, nơi chỉ có những hoàn cảnh chủ quan đã thay đổi, chẳng hạn như tiếp cận sinh nhật thứ 40 của một người.
Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Krueger và cộng sự, 2000) Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Event Entrepreneur Model – EEM) là lí thuyết về sự kiện khởi nghiệp mà Krueger và cộng sự (2000) đã phát triển dựa vào mô hình SEE của Shapero và Sokol (1982). Krueger và cộng sự (2000) đã đưa ra ba yếu tố làm ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp: thứ nhất, Mong muốn khởi nghiệp; thứ hai, Cảm nhận về tính khả thi; và thứ ba, Khuynh hướng hành động (đề cập đến xu hướng hành động của một cá nhân đối với quyết định của họ bằng cách thực hiện các hành động thích hợp). Về cơ bản, mô hình sự kiện khởi nghiệp của Krueger và cộng sự (2000) không có sự thay đổi nhiều so với mô hình cũ trước đó của Shapero và Sokol (1982), xu hướng hành động được thay thế cho biến thay đổi trong cuộc sống. Các nghiên cứu trước 2.
Nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain và cộng sự (2010) Hình 2. Mô hình nghiên cứu của Zahariah Mohd Zain (2010) (Nguồn: Zahariah Mohd Zain, 2010) Theo Zahariah Mohd Zain và cộng sự (2010), các yếu tố gồm tham gia các khóa học kinh doanh, ảnh hưởng từ truyền thống kinh doanh của các thành viên trong gia đình, đặc điểm cá nhân đều ảnh hưởng đến KSDN của sinh viên kinh tế ở Malaysia.