Tổng quan nghiên cứu
Trong giai đoạn 2000-2011, tỉnh Quảng Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP địa phương) đạt bình quân 11,31%/năm. Quy mô kinh tế tính theo giá so sánh năm 1994 đạt 10.207 tỷ đồng vào năm 2011, tăng gấp 4,1 lần so với thời điểm tái lập tỉnh năm 1997. Mặc dù sở hữu lợi thế địa kinh tế chiến lược với 125 km bờ biển, nằm ở tâm điểm Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và sở hữu hai Di sản Văn hóa Thế giới, địa phương vẫn đối diện với nghịch lý phát triển dai dẳng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 chỉ đạt 14,2 triệu đồng (tương đương 957 USD), bằng 55,4% mức thu nhập của thành phố Đà Nẵng và chỉ bằng 62,5% mức bình quân chung của cả nước (22,7 triệu đồng). Đồng thời, ngân sách địa phương phụ thuộc từ 40% đến 50% vào nguồn trợ cấp từ ngân sách Trung ương.
Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự tương phản sâu sắc giữa tiềm năng tài nguyên phong phú với năng lực tự chủ tài khóa và mức sống thực tế của người dân. Luận văn hướng đến mục tiêu đánh giá toàn diện các yếu tố nền tảng cấu thành năng lực cạnh tranh cấp địa phương, nhận diện các rào cản cản trở sự bứt phá và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách trọng tâm nhằm giải phóng nguồn lực. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian địa lý tỉnh Quảng Nam trong mối tương quan với các tỉnh lân cận thuộc Duyên hải Miền Trung xuyên suốt chuỗi thời gian 11 năm (2000-2011). Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chiến lược chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất nội tại và thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế địa phương bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng khung lý thuyết năng lực cạnh tranh cấp địa phương phát triển từ nền tảng lý thuyết năng lực cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael Porter (năm 1990, 2008) và được Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (năm 2012) hiệu chỉnh phù hợp với đặc thù quản trị vùng tại Việt Nam. Khung phân tích xác định ba tầng nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh:
Tầng thứ nhất là các yếu tố sẵn có của địa phương gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên và quy mô dân số, đóng vai trò nền tảng hỗ trợ. Tầng thứ hai là năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương gồm hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước, viễn thông), hạ tầng xã hội (giáo dục, y tế) và chính sách tài khóa, đầu tư. Tầng thứ ba là năng lực cạnh tranh cấp độ doanh nghiệp gồm môi trường kinh doanh và mức độ phát triển của các cụm ngành, tác động trực tiếp nhất đến năng suất.
Khái niệm trung tâm của nghiên cứu là năng suất lao động – thước đo cốt lõi của năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng lâu dài. Bên cạnh đó, mô hình kim cương của Porter được vận dụng để phân tích 4 yếu tố cấu thành cụm ngành: điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện cầu nội địa, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh doanh nghiệp, cùng mạng lưới ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa và dữ liệu sơ cấp thực địa. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu 11 năm (2000-2011) thu thập từ Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, Niên giám Thống kê Quốc gia, các bộ dữ liệu Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) định kỳ 2 năm một lần từ năm 2002 đến năm 2010, và chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2007-2012 do VCCI công bố trên phạm vi 63 tỉnh thành.
Đối với dữ liệu sơ cấp, phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng với quy mô 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện lãnh đạo các sở ban ngành cấp tỉnh, lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, các chuyên gia kinh tế và đại diện hiệp hội doanh nghiệp, ban điều hành các tập đoàn lớn trong Khu kinh tế mở Chu Lai và cụm du lịch Hội An.
Phương pháp phân tích phân rã năng suất lao động (Shift-Share Analysis) được lựa chọn nhằm bóc tách tăng trưởng năng suất thành 3 thành tố: hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng chuyển dịch tĩnh và hiệu ứng chuyển dịch động. Phương pháp này kết hợp với ma trận SWOT và kỹ thuật lập bản đồ cụm ngành cho phép kiểm chứng chéo số liệu thống kê, làm rõ bản chất các điểm nghẽn thể chế và phân định chính xác nguyên nhân gốc rễ của sự suy giảm năng lực cạnh tranh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh về giá trị sản lượng nhưng cơ cấu lao động chuyển biến rất chậm chạp. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng từ 19% năm 1997 lên 40,5% năm 2011, trong khi nông nghiệp giảm từ 48% xuống 20,7%. Tuy nhiên, khu vực nông lâm thủy sản vẫn chiếm tới hơn 55% tổng lực lượng lao động của toàn tỉnh, gấp gần 3 lần số lao động làm việc trong khu vực công nghiệp và xây dựng.
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hiệu ứng nội ngành chứ chưa tận dụng được hiệu ứng chuyển dịch cơ cấu. Kết quả phân rã năng suất lao động giai đoạn 2000-2011 cho thấy hiệu ứng nội ngành đóng góp tới 4,12 điểm tăng trưởng, trong khi hiệu ứng chuyển dịch tĩnh từ ngành có năng suất thấp sang ngành có năng suất cao chỉ đạt 1,25 điểm.
Thứ ba, khoảng cách phân hóa giàu nghèo và chênh lệch không gian Đông - Tây ngày càng trầm trọng. Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất tăng từ 4,8 lần năm 2002 lên 6,3 lần năm 2010; hệ số Gini tăng từ 0,30 lên 0,36. Tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện miền núi phía Tây như Nam Trà My lên tới 80,40% và Bắc Trà My là 61,34%, trong khi khu vực đồng bằng đô thị như thành phố Tam Kỳ chỉ ở mức 6,76%.
Thứ tư, hai cụm ngành kinh tế trụ cột bộc lộ tính dễ tổn thương và thiếu liên kết nội vùng. Doanh nghiệp ô tô Trường Hải tại Chu Lai đóng góp tới 57% tổng thu ngân sách tỉnh năm 2011 nhưng ngành công nghiệp phụ trợ nội địa gần như chưa phát triển. Cụm ngành du lịch Hội An thu hút hơn 2,52 triệu lượt khách năm 2011 nhưng có tới 60% lượng du khách lựa chọn lưu trú tại thành phố Đà Nẵng, khiến doanh thu dịch vụ du lịch giữ lại địa phương chỉ chiếm gần 5% tổng sản phẩm trên địa bàn.
Thảo luận kết quả
Thực trạng phân tích cho thấy nền kinh tế Quảng Nam tồn tại cấu trúc hai tầng rõ rệt. Khi thể hiện dữ liệu qua biểu đồ phân rã năng suất kết hợp ma trận dịch chuyển lao động, bức tranh kinh tế phản ánh hiện tượng thâm dụng vốn cục bộ tại các dự án công nghiệp quy mô lớn mà không tạo ra sức hút lan tỏa việc làm diện rộng cho lao động nông nghiệp nông thôn. Chất lượng lao động thấp với tỷ lệ qua đào tạo năm 2011 chỉ đạt 14,7% (thấp hơn mức bình quân 15,6% của cả nước) chính là nguyên nhân trực tiếp hạn chế quá trình hấp thu nguồn nhân lực.
So sánh với các địa phương lân cận trong Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, Quảng Nam thu hút 55 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 5,06 tỷ USD giai đoạn 2000-2011, đứng thứ ba toàn vùng, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt dưới 10% (khoảng 408 triệu USD). Mặc dù chỉ số PCI năm 2012 đạt 60,2 điểm (xếp hạng 15 toàn quốc, thuộc nhóm tốt), địa phương vẫn chịu tổn thất thiên tai ước tính chiếm 6,2% GDP hằng năm, có năm đỉnh điểm lên đến 18-20% GDP. Trình bày dữ liệu chuỗi thời gian dưới dạng biểu đồ tương quan giữa vốn đầu tư và năng suất phản ánh rõ nét sự thiếu hụt các ngành công nghiệp phụ trợ, khiến chi phí logistics tăng cao và giá trị gia tăng bị phân tán sang các trung tâm đô thị khác.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực gắn kết với nhu cầu thị trường. Thành lập Trung tâm Phát triển Nguồn nhân lực tại Khu kinh tế mở Chu Lai trước năm 2015 dưới sự đồng quản lý của các hiệp hội doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Thiết lập liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng với Đại học Đà Nẵng và Đại học Huế. Mục tiêu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30% vào năm 2015 và trên 45% vào năm 2020. Chủ thể chịu trách nhiệm chính là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai.
Thứ hai, thu hẹp khoảng cách phát triển Đông - Tây bằng hạ tầng giao thông và kinh tế rừng. Khởi công nâng cấp các tuyến Quốc lộ 14B, 14D, 14E và các đường tỉnh lộ kết nối miền núi với duyên hải trong giai đoạn 2014-2018. Xây dựng mạng lưới trạm dừng nghỉ tích hợp dịch vụ y tế, bưu chính và thương mại nông sản dọc tuyến hành lang kinh tế. Chuyển đổi chính sách giao đất, giao rừng theo quy mô cộng đồng thôn làng gắn với quy hoạch các vùng chuyên canh dược liệu giá trị cao như Sâm Ngọc Linh, Quế Trà My và Ba Kích. Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo miền núi xuống dưới 30% trước năm 2020, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Ủy ban nhân dân các huyện vùng cao thực hiện.
Thứ ba, tăng cường năng lực nội tại và tỷ lệ nội địa hóa cho cụm ngành cơ khí ô tô. Xây dựng gói ưu đãi hạ tầng cho các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ trợ cơ khí, cao su, kính và linh kiện điện tử tại Chu Lai từ năm 2014. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa của cụm ngành ô tô lên mức trên 40% trước năm 2018 nhằm ứng phó với lộ trình cắt giảm thuế quan của các hiệp định thương mại tự do. Cơ quan chủ trì là Sở Công Thương.
Thứ tư, tái định vị chuỗi giá trị cụm ngành du lịch và mở rộng liên kết vùng. Mở rộng không gian du lịch phố cổ Hội An theo mô hình bảo tồn phát triển thích ứng, xây dựng các tổ hợp vui chơi, giải trí đêm và trung tâm thương mại cao cấp giai đoạn 2015-2020. Thiết lập chương trình liên kết điểm đến ba địa phương Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam. Mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế từ 1,7 ngày lên 2,5 ngày và nâng tỷ trọng đóng góp của du lịch vào ngân sách tỉnh lên 10% vào năm 2020. Đơn vị chủ trì là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh: Cung cấp khung phân tích thực chứng để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, điều chỉnh cơ cấu phân bổ chi ngân sách đầu tư phát triển và thiết kế chính sách an sinh xã hội liên vùng.
Nhóm doanh nghiệp, nhà đầu tư và hiệp hội ngành nghề: Giúp các nhà đầu tư trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, logistics và du lịch dịch vụ nhận diện lợi thế so sánh, đánh giá rủi ro chuỗi cung ứng và đón đầu cơ hội hợp tác phát triển cụm ngành tại Khu kinh tế mở Chu Lai và đô thị Hội An.
Nhóm chuyên gia tư vấn phát triển vùng và quy hoạch không gian: Cung cấp mô hình thực nghiệm về phương pháp lập bản đồ cụm ngành và công cụ phân rã năng suất, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng các đề án liên kết kinh tế Vùng Duyên hải Miền Trung.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp ma trận SWOT định lượng, ứng dụng lý thuyết năng lực cạnh tranh địa phương của Michael Porter trong phân tích kinh tế thực chứng tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân cốt lõi khiến GDP Quảng Nam tăng trưởng cao nhưng thu nhập bình quân đầu người vẫn ở mức thấp là gì? Tăng trưởng GDP thời gian qua chủ yếu dựa vào gia tăng vốn đầu tư thâm dụng trong khu vực công nghiệp lắp ráp và chế biến, trong khi hơn 55% lao động vẫn tập trung tại khu vực nông nghiệp có năng suất thấp. Hiệu ứng chuyển dịch lao động giữa các khu vực kinh tế chỉ đóng góp 1,25 điểm vào tăng trưởng năng suất, dẫn đến thu nhập của đại bộ phận dân cư chuyển biến chậm.
Sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc giữa vùng Đông và vùng Tây của tỉnh bắt nguồn từ đâu? Sự phân hóa xuất phát từ chia cắt địa hình hiểm trở làm tách biệt giao thương, hạ tầng giao thông kết nối kém và cơ sở y tế, giáo dục vùng cao thiếu hụt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tại miền núi rất thấp, sản xuất mang tính tự cấp tự túc, khiến tỷ lệ nghèo ở các huyện vùng cao như Nam Trà My duy trì ở mức trên 80%.
Cụm ngành cơ khí ô tô Chu Lai đối mặt với những thách thức chiến lược nào trong tương lai? Thách thức lớn nhất là hàng rào thuế quan bảo hộ nội địa dần xóa bỏ theo lộ trình các hiệp định tự do thương mại quốc tế, đặt các sản phẩm lắp ráp trước áp lực cạnh tranh giá gay gắt. Hơn nữa, mạng lưới doanh nghiệp phụ trợ tại địa phương chưa phát triển, khiến chi phí sản xuất và logistics phụ thuộc nhiều vào linh kiện nhập khẩu.
Tại sao du lịch sở hữu hai di sản thế giới nhưng đóng góp ngân sách địa phương vẫn dưới 5%? Quảng Nam chưa phát triển được hệ sinh thái dịch vụ bổ trợ đồng bộ như trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí đêm cao cấp và dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Do đó, có tới 60% lượng khách quốc tế và nội địa chọn lưu trú tại Đà Nẵng, khiến mức chi tiêu bình quân trên một lượt khách ở lại Quảng Nam rất thấp.
Khung phân tích của Michael Porter đã được hiệu chỉnh như thế nào khi áp dụng cho cấp độ địa phương? Mô hình quốc gia được tinh chỉnh phù hợp với thể chế cấp tỉnh bằng cách phân định 3 cấp độ: yếu tố nền tảng sẵn có, năng lực cạnh tranh địa phương (hạ tầng, chính sách tài khóa) và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, cụm ngành). Cách tiếp cận này giúp nhận diện chính xác vai trò can thiệp của chính quyền cấp tỉnh đối với năng suất.
Kết luận
Luận văn đã khái quát hóa và giải quyết thành công những vấn đề then chốt trong phát triển kinh tế địa phương thông qua 5 kết luận trọng tâm:
- Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000-2011 đạt tốc độ ấn tượng 11,31%/năm nhưng chất lượng tăng trưởng chưa bền vững do phụ thuộc sâu vào thâm dụng vốn nội ngành.
- Cơ cấu kinh tế bộc lộ sự bất đối xứng nghiêm trọng giữa tốc độ công nghiệp hóa sản lượng với tốc độ chuyển dịch lực lượng lao động nông nghiệp.
- Khoảng cách phát triển và mức độ bất bình đẳng giữa dải đồng bằng ven biển phía Đông và vùng đồi núi phía Tây có xu hướng nới rộng, đe dọa mục tiêu phát triển bao trùm.
- Hai cụm ngành kinh tế động lực là cơ khí ô tô và du lịch chưa hình thành được hệ sinh thái ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ giá trị gia tăng cao.
- Năng lực cạnh tranh tổng thể của địa phương đòi hỏi sự chuyển dịch quyết liệt từ khai thác lợi thế tài nguyên sẵn có sang nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực.
Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là xây dựng cơ sở dữ liệu thực chứng và bộ khung phân tích cụm ngành chuẩn mực cho một tỉnh Duyên hải Miền Trung. Trong lộ trình triển khai tiếp theo, chính quyền địa phương cần khẩn trương hoàn thiện quy hoạch phân vùng kinh tế sinh thái giai đoạn 2015-2020, ưu tiên nguồn vốn ngân sách cho hạ tầng giao thông Đông - Tây và ban hành cơ chế thu hút công nghiệp phụ trợ. Các nhà quản lý chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động nhằm hiện thực hóa các khuyến nghị, tạo bước đột phá vững chắc đưa Quảng Nam trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại.