Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài và tổng quan về đầm Thị Nại Trong chương đầu tiên, chúng tôi trình bày những khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nội dung của chương còn đề cập đến các vấn đề như vị 12 trí địa lý, đặc điểm tự nhiên và lịch sử hình thành cộng đồng dân cư đầm Thị Nại, cũng như khái quát hình thành xã Phước Thuận là điểm chọn ở đầm Thị Nại. Chương 2: Hoạt động kinh tế và văn hoá vật chất của cư dân đầm Thị Nại: Chương này chúng tôi giới thiệu về hoạt động kinh tế của cộng đồng cư dân bao gồm các nghề: đánh bắt, khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản, nghề làm muối, nghề tiểu thủ công truyền thống Bên cạnh đó, chúng tôi còn trình bày đặc điểm văn hoá vật chất qua các khía cạnh nhà ở, trang phục, ẩm thực phương tiện đi lại. Chương 3: Văn hoá tinh thần và văn hoá xã hội của cộng đồng cư dân đầm Thị Nại Trong chương này chúng tôi tập trung trình bày về văn hoá tinh thần của cộng đồng cư dân đầm Thị Nại, chủ yếu đề cập đến hoạt động tín ngưỡng và lễ hội, văn học nghệ thuật.
Phần phụ lục của luận văn bao gồm các biên bản phỏng vấn, bảng biểu và hình ảnh liên quan đến đề tài. 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐẦM THỊ NẠI. Khái niệm v Cộng đồng dân cư: Cộng đồng dân cư là một tập thể gồm những thành viên gắn với nhau bằng những giá trị chung. Cộng đồng có một sự cố kết nội tại không phải do những quy tắc rõ ràng, những luật pháp thành văn, mà những liên hệ sâu hơn.
Sự cố kết hữu cơ giữa các cá nhân mới là nền tảng thật sự của cộng đồng. Có hai cách hiểu về cộng đồng, thứ nhất là cộng đồng tính: là thuộc tính hay quan hệ xã hội như tình cảm cộng đồng, nhóm xã hội có tính cộng đồng… thứ hai là cộng đồng thể: là các nhóm người, nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều loại (thể) có quy mô khác nhau. Có thể phân cộng đồng thành 2 loại: - Cộng đồng địa lý: bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địa bàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã hội và có thể có quan hệ ràng buộc với nhau. Họ cùng được áp dụng chính sách chung.
- Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung. Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay các hiệp hội có tổ chức1. Trong đề tài nghiên cứu này, cộng đồng được hiểu là một nhóm dân cư sinh sống trong một thực thể xã hội, có cơ cấu tổ chức và có cùng một giá trị cơ bản. Do đó cộng đồng cư dân đầm Thị Nại bao hàm cả cộng đồng địa lý (cư trú lâu đời ở đầm ven biển) lẫn cộng đồng chức năng (chủ yếu nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối.
v Đầm: Đầm/phá ( coastal lagoon) là một loại hình thủy vực ven bờ, phía ngoài ngăn cách với biển bởi một hệ thống các doi cát chắn (sand barrie) dọc bờ và thông với 1 Thuật ngữ tra cứu Anh Việt ngành nhân học do Phan Thị Yến Tuyết chủ biên. Công trình nghiên cứu của ĐHQG đã nghiệm thu, chưa xuất bản 14 biển bởi một hoặc vài cửa. Các phá điển hình thường phát triển ở các rìa đồng bằng cát ven biển, nơi giàu bồi tích cát, trong điều kiện động lực của vùng bờ có xu thế san bằng và với vai trò thống trị của dòng sóng dọc bờ. Ở Việt Nam có nơi gọi phá là đầm, hay đầm phá.
Hệ sinh thái điển hình của vùng cửa sông ven biển bao gồm các thành phần như vùng châu thổ (delta), vùng đồng bằng ven biển, các vùng đất ngập nước, các bãi biển và cồn cát, các rạn san hô, các vùng rừng ngập mặn (rừng sác), đầm phá (lagoon), và các đặc trưng ven bờ khác. Chính những khu hệ khác nhau này cùng sự pha trộn giữa môi trường nước biển và nước ngọt đã tạo ra nguồn lợi thủy sản vô cùng đa dạng và phong phú. Thế nhưng, đây cũng là vùng vô cùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương bởi tác động của các hiện tượng tự nhiên cũng như các hoạt động khác nhau của con người như sự gây ô nhiễm và việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thủy sản.2 “Đầm có thể có một hay nhiều cửa biển, đóng mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa lũ, có khi trên mặt đất lại đóng kín nhưng nước đầm vẫn luân lưu với nước biển phía ngoài nhờ thẩm thấu qua thân đê các chắn. Đầm phá ven bờ có mặt ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài bờ đại dương thế giới.
Theo hình thái – động lực, đầm phá ven biển phân thành 4 kiểu – đầm phá dạng cửa sông ( estuarine lagoon), dạng mở (open lagoon), dạng kín từng phần (partly closed lagoon) và dạng kín (closed lagoon)” [78: tr.27-80] Ở Bình Định có một đầm nước lợ - ngọt là đầm Trà Ổ (Phù Mỹ) và hai đầm nước lợ - mặn là đầm Đề Gi (Phù Mỹ - Phù Cát) và đầm Thị Nại (Tuy Phước). Sở dĩ có 1 đầm nước lợ - ngọt và 2 đầm nước lợ - mặn do có nhiều hệ thống sông suối đổ vào 3 đầm này như sông Lại Giang, sông La Tinh, sông Côn, sông Hà Thanh cùng nhiều suối làm thay đổi tính chất, nguyên tắc phải nước mặn vì đầm là một thành tố của biển, nước trong đầm là nước mặn. Đầm Thị Nại là một đầm nước lợ - 2 (Nguồn:http://www2.vn/data/nguyenvantrai/file/Sinh%20th%C3%A1i%20CHUONG %201.pdf) 15 mặn tự nhiên ven biển. Tuy nhiên theo từng thời kỳ mà đầm cũng có nước ngọt do lưu lượng các nhánh của sông Côn và sông Hà Thanh đều chảy vào trong đầm.
Đầm Thị Nại dài 15km và rộng 4km, diện tích 5.060ha lúc triều lên và khoảng 3.200ha lúc triều xuống, diện tích mặt nước lớn trên 900 ha, đầm chính là nơi lưu giữ dinh dưỡng, phù sa, thích hợp phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn và là môi trường thuận tiện cho việc cư trú, sinh sản của một số loại thuỷ sản theo mùa như tôm, cá, có vai trò cân bằng tự nhiên và sinh thái ven bờ. Đầm Thị Nại có vị trí thuận lợi phát triển cảng biển quốc gia, là nơi có cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay. Không những phát triển về giao thông, thuỷ lợi, các ngành nông- lâm-ngư nghiệp, ngăn chặn lũ lụt mà đầm còn là nơi hình thành cuộc sống dân sinh, phát triển đời sống vật chất và tinh thần của cả cộng đồng dân cư rộng lớn. Về những chức năng môi trường của hệ sinh thái đầm, phá thực chất là những giá trị không tính toán, định lượng được.
Tuy vậy giá trị của nó có thể quan trọng hơn nhiều các giá trị tài nguyên cụ thể được xác định và khai thác trực tiếp. Phát triển kinh tế, xã hội theo năng suất và sản xuất tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng đầm, phá cung cấp cho con người nhiều loại hải sản và tạo điều kiện phát triển theo các lĩnh vực kinh tế như: đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản, du lịch sinh thái, kinh tế cảng biển.3 v Tài nguyên vị thế (Position Resources) Tài nguyên vị thế là những giá trị và lợi ích có được từ vị trí địa lý và các thuộc tính về cấu trúc, hình thể sơn văn và cảnh quan, sinh thái của một không gian, có thể sử dụng cho các mục đích phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng và chủ quyền quốc gia. Theo nguồn gốc thì tài nguyên thiên nhiên gồm có ba nhóm cơ bản: sinh vât, phi sinh vật, vị thế (không gian). Tài nguyên vị thế biển là không gian biển và ven bờ, nổi và ngầm, gồm: Luồng lạch, bến bãi, đất đai ven bờ, bán đảo và hải đảo, bãi cát biển, thềm đá, hang động.
Một vịnh nước sâu và kín, không có tài nguyên truyền thống phong phú, 3 https://tailieu.vn/doc/dam-pha-428284.html 16 nhưng có thể sử dụng thành một cảng biển, mang lại những lợi ích kinh tế to lớn nhờ sử dụng tài nguyên vị thế. Nhiều quốc gia đảo coi tài nguyên vị thế biển là tiềm năng lớn nhất để phát triển kinh tế dịch vụ và du lịch. Tài nguyên vị thế biển Việt Nam bao gồm hệ thống thuỷ hệ hoặc địa hệ với cả ba hợp phần nền đất (hoặc đáy), nước và không khí, nằm trong phạm vi chủ quyền quốc gia và được phân cấp như sau: - Cấp 1- biển Việt Nam; - Cấp 2- các vùng của biển Việt Nam; - Cấp 3- các thuỷ hệ - địa hệ nằm trong các vùng biển, tạo thành các hệ thống riêng như hải đảo, đầm phá, cửa sông và vũng vịnh4. Chúng tôi nghĩ rằng đầm Thị Nại có đầy đủ điều kiện thuận lợi cho phát triển cộng đồng như tài nguyên vị thế biển và những vai trò như chức năng môi trường, chức năng cân bằng tự nhiên, hệ sinh thái và phát triển kinh tế xã hội.
Đầm có sự liên quan mật thiết đến đời sống dân sinh, kinh tế của một cộng đồng dân cư rộng lớn. Lý thuyết và các quan điểm học thuật: Đề tài nghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết: tổng thể văn hoá tộc người, vùng văn hoá, thuyết chức năng, thuyết sinh thái văn hóa. - Tổng thể văn hoá tộc người Theo quan điểm học thuật của X.Tokarev, một học giả nổi tiếng người Nga về tổng thể văn hoá tộc người bao gồm ba thành tố là văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội.