Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài 3.260 km với hệ thống đầm phá ven biển phong phú, trong đó đầm Thị Nại tại tỉnh Bình Định là thủy vực nước lợ mặn lớn nhất khu vực Nam Trung Bộ. Đầm có chiều dài 15 km, bề rộng khoảng 4 km, diện tích mặt nước đạt 5.060 ha khi triều lên và thu hẹp còn khoảng 3.200 ha khi triều xuống. Đây là không gian sinh tồn lâu đời của các cộng đồng cư dân mang đậm dấu ấn văn hóa biển cận duyên. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa cùng hoạt động nuôi trồng thủy sản tự phát đã khiến diện tích rừng ngập mặn tại đây suy giảm nghiêm trọng từ khoảng 1.000 ha trước kia xuống còn 32,7 ha, đe dọa trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản và sự cân bằng sinh thái.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề tương tác giữa con người và môi trường đầm phá, làm rõ quá trình thích ứng sinh thái qua các phương thức sinh kế, văn hóa vật chất, đời sống tâm linh và tổ chức xã hội. Mục tiêu cụ thể là phục dựng bức tranh toàn diện về đời sống của cộng đồng cư dân đầm Thị Nại, xác định các giá trị di sản truyền thống cần bảo tồn và nhận diện những thách thức kinh tế xã hội đương đại.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại xã Phước Thuận thuộc huyện Tuy Phước với tổng diện tích 2.265,3 ha gồm 7 thôn ven đầm, đồng thời mở rộng so sánh với các xã lân cận. Khung thời gian khảo sát trọng tâm từ sau năm 1975 đến năm 2019, có đối sánh lịch sử từ thời kỳ Chămpa thế kỷ X đến cảng thị Nước Mặn thế kỷ XVII. Công trình mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật phục vụ quản lý 16.695 nhân khẩu tại địa phương, hỗ trợ quy hoạch không gian sinh thái bền vững và bảo tồn 100% các thiết chế văn hóa dân gian vùng đầm phá.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết liên ngành nhân học văn hóa nhằm giải mã toàn diện đời sống cộng đồng. Thuyết sinh thái văn hóa của Julian Steward giữ vai trò nền tảng, giải thích cách thức con người tiếp nhận, thích ứng với điều kiện tự nhiên đầm phá và sáng tạo nên các dạng thức văn hóa đặc thù. Thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski và Arthur Reginald Radcliffe-Brown được khai thác để lý giải vai trò của các thiết chế tâm linh, nghi lễ cúng tế trong việc giải tỏa áp lực tâm lý và duy trì tính ổn định của cơ cấu xã hội trước những bất trắc của nghề biển.

Bên cạnh đó, lý thuyết tổng thể văn hóa tộc người của S.A. Tokarev định hình cấu trúc phân tích ba thành tố hữu cơ gồm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội. Các khái niệm then chốt được thao tác hóa chặt chẽ: cộng đồng dân cư (phân định giữa cộng đồng địa lý và cộng đồng chức năng), đầm phá ven biển (thủy vực dạng cửa sông chịu tác động hỗn hợp của nhật triều và sông ngòi), cùng tài nguyên vị thế (giá trị không gian địa kinh tế và an ninh sinh thái).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Việt Nam học, nhân học biển, dân tộc học và địa lý văn hóa. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 5 đợt điền dã thực địa kéo dài từ tháng 4/2016 đến tháng 9/2018 tại 7 thôn thuộc xã Phước Thuận.

Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích với cỡ mẫu gồm 31 cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn hồi cố. Đối tượng khảo sát là những người dân am hiểu địa phương trong độ tuổi từ 30 đến 65 tuổi, bao gồm ngư dân đánh bắt xa bờ, thợ thủ công đan lưới, nghệ nhân đóng ghe, chủ đầm tôm, diêm dân và các bậc cao niên trong ban quản lý di tích. Phương pháp quan sát tham dự được thực hiện trực tiếp trong các chuyến đánh bắt bằng sõng nan, quy trình chế tạo ngư cụ câu kiều và nghi lễ rước linh vị tại lễ hội Cầu ngư ngày 16/2 âm lịch.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính là nhằm ghi nhận tiếng nói chân thực của chủ thể văn hóa từ góc nhìn bên trong, giúp phát hiện các quy tắc ứng xử phi văn bản và tri thức bản địa mà các số liệu thống kê đơn thuần không thể phản ánh trọn vẹn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sinh kế của cư dân thể hiện tính thích ứng sinh thái rõ rệt với sự phân hóa chức năng tại 4 thôn ven đầm. Điển hình tại thôn Bình Thái, trong tổng số 262 hộ gia đình thì có 70% số hộ theo nghề ngư nghiệp, trong đó có khoảng 25 đến 30 hộ duy trì nghề đánh bắt xa bờ bằng câu kiều, 5 đến 10 hộ làm nghề thủ công sản xuất ngư cụ câu kiều chuyên biệt. Các thôn khác phát triển nghề đặc trưng như thôn Diêm Vân chuyên nghề làm muối truyền thống, thôn Nhân Ân làm nghề câu thẻo và đóng sửa ghe thuyền, thôn Lộc Hạ duy trì nghề làm lưới gõ và lưới chồ.

Thứ hai, văn hóa vật chất phản ánh sâu sắc môi trường đầm nước lợ. Kiến trúc nhà ở kiểu chữ Đinh chiếm ưu thế nhằm thích ứng với gió bão; phương tiện di chuyển chủ yếu là sõng nan cơ động trong vùng nước cạn dưới 2 mét; ẩm thực bản địa nổi bật với món bánh xèo tôm nhảy khai thác nguồn tôm đất tự nhiên.

Thứ ba, đời sống tâm linh và thiết chế xã hội có tính dung hợp cao giữa tín ngưỡng biển và tôn giáo chính thống. Xã Phước Thuận tập trung 8 ngôi chùa Phật giáo với 3.437 tín đồ chiếm 21,15% dân số, Tiểu chủng viện Làng Sông cùng 2 giáo xứ với 1.244 tín đồ Công giáo chiếm 7,66% dân số. Song song đó, tín ngưỡng thờ Cá Ông tại Lăng Nam Hải thôn Bình Thái, miếu Ngài Đen và miếu Thanh Minh tạo nên điểm tựa tinh thần vững chắc cho ngư dân.

Thảo luận kết quả

Môi trường đầm Thị Nại tiếp nhận lưu vực rộng 3.647 km2 từ hệ thống sông Côn dài 178 km và sông Hà Thanh dài 48 km. Điều này tạo ra chu kỳ mùa vụ sinh vật phong phú, trong đó 70% đến 75% lượng mưa tập trung vào các tháng cuối năm làm thay đổi độ mặn, kích hoạt dòng di cư của tôm cá và hình thành nhịp điệu lao động thời vụ từ tháng 6 đến tháng 12.

Theo lý thuyết chức năng, mặc dù không gian đầm phá ít hiểm nguy hơn vùng biển khơi, cư dân vẫn duy trì hệ thống cúng bái Cá Ông và thần linh biển dày đặc. Điều này giải tỏa tâm lý lo âu trước sự bấp bênh của sản lượng khai thác và rủi ro thiên tai khi mùa mưa lũ chiếm hơn 50% tổng lượng mưa trong hai tháng cao điểm.

Sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn từ 1.000 ha xuống còn 32,7 ha do làn sóng đắp đầm nuôi tôm bán thâm canh đã phá vỡ nơi sinh sản tự nhiên của thủy sản, đẩy ngư dân vào tình trạng suy giảm thu nhập. Toàn bộ các tương quan nghề nghiệp, dân số và sự phân bố tín ngưỡng này có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng cơ cấu kinh tế 7 thôn và sơ đồ ma trận thiết chế văn hóa không gian đầm phá.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn văn hóa bản địa và phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng đầm Thị Nại, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất cụ thể:

Thứ nhất, phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn với mục tiêu nâng tổng diện tích từ 32,7 ha hiện nay lên 100 ha vào năm 2025. Trung tâm Ứng phó Biến đổi khí hậu tỉnh Bình Định phối hợp cùng Ủy ban nhân dân xã Phước Thuận triển khai phương thức giao khoán bảo vệ rừng trực tiếp cho 8 đến 10 hộ dân tại mỗi thôn ven đầm, ưu tiên trồng các loại cây bản địa như bần trắng, mắm trắng và đước để tạo vành đai chắn sóng bảo vệ hệ thống đê điều.

Thứ hai, tái cấu trúc mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng sinh thái, phấn đấu chuyển đổi ít nhất 40% diện tích ao nuôi tôm thâm canh tự phát sang mô hình bán thâm canh bền vững trong vòng 3 năm. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh giữ vai trò kiểm soát chất lượng con giống và giám sát quy trình xử lý nước thải nhằm giảm 50% nguy cơ ô nhiễm nguồn nước nội đầm.

Thứ ba, lập hồ sơ khoa học bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đối với Lễ hội Cầu ngư thôn Bình Thái và kỹ nghệ đan lưới chồ, làm ngư cụ câu kiều truyền thống trước quý IV năm 2024. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Tuy Phước chủ trì cấp kinh phí tôn tạo lăng Ông Nam Hải và phục dựng diễn xướng bả trạo dân gian.

Thứ tư, xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng gắn với trải nghiệm chèo sõng, tham quan Tiểu chủng viện Làng Sông và thưởng thức ẩm thực địa phương. Đề án do Hiệp hội Du lịch Bình Định phối hợp chính quyền địa phương triển khai, hướng tới mốc thu hút 50.000 lượt khách mỗi năm vào năm 2026, tạo sinh kế phụ cho 30% hộ ngư dân nghèo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho bốn nhóm độc giả chuyên môn:

Nhà nghiên cứu Việt Nam học và Nhân học văn hóa: Nguồn tư liệu điền dã phong phú gồm 31 biên bản phỏng vấn sâu và hệ thống tư liệu lịch sử về cảng thị Thị Nại, cảng thị Nước Mặn giúp củng cố các nghiên cứu về văn hóa biển miền Trung.

Cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về đời sống của 16.695 cư dân tại 7 thôn xã Phước Thuận, hỗ trợ xây dựng chính sách an sinh, chuyển đổi nghề nghiệp và quy hoạch không gian 5.060 ha mặt nước đầm Thị Nại.

Doanh nghiệp phát triển du lịch và kiến trúc sư cảnh quan: Khai thác kho tàng tri thức bản địa, ẩm thực bánh xèo tôm nhảy và quần thể 8 ngôi chùa cổ kính cùng Tiểu chủng viện Làng Sông để thiết kế các tour du lịch di sản văn hóa bền vững.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Xã hội: Cung cấp khung phương pháp luận mẫu mực về sự kết hợp giữa lý thuyết sinh thái văn hóa và phương pháp điền dã nhân học thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Đầm Thị Nại có diện tích và đặc điểm tự nhiên nổi bật nào ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của cư dân? Đầm có diện tích 5.060 ha khi triều lên và 3.200 ha khi triều xuống, tiếp nhận nguồn nước từ sông Côn và sông Hà Thanh. Độ mặn biến thiên theo mùa giúp hình thành hệ sinh thái thủy sản phong phú, tạo sinh kế đánh bắt quanh năm cho hàng nghìn hộ dân với vụ mùa bội thu từ tháng 6 đến tháng 12.

Khung lý thuyết nào được áp dụng chủ đạo trong luận văn này? Luận văn áp dụng ba lý thuyết chính gồm Thuyết sinh thái văn hóa của Julian Steward nhằm giải thích tính thích ứng môi trường, Thuyết chức năng của Bronislaw Malinowski giải mã vai trò nghi lễ tâm linh, và Lý thuyết tổng thể văn hóa tộc người của S.A. Tokarev để phân tích ba thành tố văn hóa vật chất, tinh thần, xã hội.

Thôn Bình Thái có nét văn hóa tín ngưỡng nào đặc thù nhất tại huyện Tuy Phước? Thôn Bình Thái là địa bàn duy nhất tại huyện Tuy Phước duy trì thiết chế vạn chài với 262 hộ dân, sở hữu Lăng thờ Ông Nam Hải và tổ chức Lễ hội Cầu ngư quy mô lớn vào ngày 16/2 âm lịch hằng năm, phản ánh tâm thức tôn kính thần bảo trợ biển cả.

Thực trạng diện tích rừng ngập mặn tại xã Phước Thuận đang diễn biến ra sao? Trước đây diện tích rừng ngập mặn đạt khoảng 1.000 ha nhưng đã suy giảm mạnh xuống còn 32,7 ha do hoạt động phá rừng đào ao nuôi tôm công nghiệp. Hiện nay, chính quyền đang giao khoán cho 8 đến 10 hộ dân mỗi thôn trồng dặm lại các loại cây bần trắng, mắm trắng để chống sạt lở đê điều.

Tổ chức vạn chài đóng vai trò gì trong quản lý xã hội tại cộng đồng cư dân ven đầm? Vạn chài hoạt động như một thiết chế tự quản phi quan phương, liên kết 70% số hộ làm nghề đánh bắt trong thôn thông qua các quy ước bảo vệ ngư trường, hỗ trợ cứu nạn trên đầm và tổ chức thực hành các nghi lễ tín ngưỡng chung của cộng đồng.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng toàn diện diện mạo kinh tế, văn hóa và xã hội của cộng đồng cư dân ven đầm Thị Nại với trọng tâm khảo sát tại xã Phước Thuận gồm 7 thôn và 16.695 nhân khẩu.
  • Nghiên cứu chứng minh sự thích ứng sinh thái sâu sắc của cư dân thông qua các phương thức đánh bắt chuyên biệt, kỹ nghệ ngư cụ truyền thống và kiến trúc nhà ở thích ứng bão lũ.
  • Công trình làm rõ vai trò cân bằng tâm lý của các thiết chế tín ngưỡng Lăng Ông Nam Hải và hệ thống 8 ngôi chùa trong việc duy trì tính cố kết cộng đồng trước những rủi ro sinh kế.
  • Cơ sở dữ liệu định tính từ 31 trường hợp phỏng vấn sâu cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho việc hoạch định chính sách bảo vệ 5.060 ha mặt nước đầm phá.
  • Đề xuất mở rộng nghiên cứu sang 3 xã ven đầm lân cận gồm Phước Sơn, Phước Hòa, Phước Thắng trong giai đoạn 2025-2030, đồng thời kêu gọi các cơ quan quản lý khẩn trương triển khai chương trình phục hồi 100 ha rừng ngập mặn và bảo tồn di sản văn hóa vạn chài truyền thống.