Đặt vấn đề Là một xã thuộc huyện miền núi còn nhiều khó khăn, những năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp xã Đồng Tâm đã tập trung chỉ đạo phát triển những lĩnh vực mà xã có tiềm năng, phát huy tối đa mọi nguồn lực sẵn có của địa phương, tăng cường mở rộng hợp tác phát triển kinh tế, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội tại địa phương. Trong lĩnh vực nông nghiệp, bên cạnh việc phát huy lợi thế đất rừng để phát triển lâm nghiệp, lợi thế về điều kiện tự nhiên để phát triển các loại cây cao sản có giá trị kinh tế cao trong đó đặc biệt xã chú trọng tới khôi phục và phát triển nghề trồng và chế biến miến dong. Dong riềng là một trong những cây trồng có độ che phủ khá lớn, do cây được trồng vào mùa xuân, thu hoạch giữa mùa khô sẽ có tác dụng hạn chế dòng chảy, chống xói mòn đất. Ngoài ra, dong riềng còn có giá trị trong y học, trong chăn nuôi, có năng suất cao, thích hợp với đất đai thổ nhưỡng của xã : là cây trồng được chọn để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới làm giầu cho người dân xã Đồng Tâm hôm nay và mai sau.
Nhận thấy hiệu quả to lớn của cây dong riềng về kinh tế và môi trường đồng thời phát huy lợi thế sẵn có, trong những năm xã Đồng Tâm đã tuyên truyền vận động người dân các dân tộc mở rộng diện tích trồng, chăm sóc và chế biến dong riềng theo hướng áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Xây dựng nhiều mô hình trang trại trồng dong với quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hoá để tạo thu nhập cao cho người dân góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống hộ nông dân, phát triển kinh tế tại chỗ. Đến năm 2006, nhãn hiệu “Miến dong Bình Liêu” được xác lập, bảo hộ bởi Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Sau khi được n 2 công nhận, sản phẩm "Miến dong Bình Liêu" đã dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường tiêu thụ trở thành một trong những sản phẩm đặc sản của huyện, xã.
Với thương hiệu Miến chất lượng tốt, đặc biệt không sử dụng hóa chất, sợi miến dai, mềm, thơm ngon, có hương vị đặc trưng khác hẳn với các loại miến sản xuất ở nơi khác, nhờ vậy đã được huyện đầu tư chú trọng phát triển quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu tập trung đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ miến dong tại địa bàn xã Cấu trúc và hoạt động thị trường miến dong đã thay đổi theo hướng chuyên môn hoá. Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng miến dong nói riêng trong thời gian qua đã vấp phải những khó khăn và thách thức lớn làm ảnh hưởng đến giá trị gia tăng của ngành hàng nhất là phân phối lợi ích và chi phí giữa các tác nhân tham gia ngành hàng. Để đánh giá, phân tích xác định lợi ích các tác nhân tham gia thị trường và đề xuất những giải pháp cho việc phát triển bền vững của môi trường, ổn định các vấn đề kinh tế - xã hội và cạnh tranh gay gắt trên thị trường nông sản. Trên cơ sở kết hợp giữa lý luận và tình hình thực tiễn, nhằm nghiên cứu thực trạng ngành hàng miến dong của xã, huyện để tìm ra những điểm mạnh điểm yếu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất miến dong, đưa ra những giải pháp hợp lý để phát triển ngành hàng miến dong trong thời gian tới.
Từ những vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu tại xã Đồng Tâm huyện Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh" .2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu phân tích thực trạng ngành hàng miến dong, hoạt động của các tác nhân trong ngành hàng, các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển ngành hàng miến dong Bình Liêu góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho các hộ nông dân ở xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu n 3 1.2 Mục tiêu cụ thể Xác định các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị ngành hàng miến dong Bình Liêu trên địa bàn xã Đồng Tâm, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Phân tích thực trạng ngành hàng miến dong Bình Liêu: Lập sơ đồ ngành hàng, phân tích kinh tế và xác định lợi ích các tác nhân tham gia ngành hàng Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ngành hàng: xác định những lợi thế và cơ hội, những cản trở và nguy cơ thách thức của các tác nhân trong ngành hàng Đề xuất các giải pháp hành động để thực hiện chiến lược phát triển ngành hàng miến dong Bình Liêu trong thời gian tới.3 Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong khoa học Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn. Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử lý số liệu, viết báo cáo. Giúp hiểu thêm về tình hình sản xuất miến dong trên địa bàn xã Đồng Tâm- huyện Bình Liêu- tỉnh Quảng Ninh.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Nhận thấy những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập, nâng cao hiệu quả kinh tế người dân trong địa bàn. Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Các quan điểm và khái niệm về ngành hàng 2.1 Ngành hàng Vào những năm 1960 phương pháp phân tích ngành hàng (Filiere) sử dụng nhằm xây dựng các giải pháp thúc đẩy các hệ thống sản xuất nông nghiệp. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất đó là làm thế nào để các hệ thống sản xuất tại địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và tiêu dùng nông sản. Bước sang những năm 1980, phân tích ngành hàng được sử dụng và nhấn mạnh vào giải quyết các vấn đề chính sách của ngành nông nghiệp, sau đó phương pháp này được phát triển và bổ sung thêm sự tham gia của các vấn đề thể chế trong ngành hàng. Đến những năm 1990, có một khái niệm được cho là phù hợp hơn trong nghiên cứu ngành hàng nông sản do J.P Boutonnet đưa ra đó là: "Ngành hàng là một hệ thống được xây dựng bởi các tác nhân và các hoạt động tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối một sản phẩm và bởi các mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như với bên ngoài".P Boutonnet, INRA France) Theo Fabre: “Ngành hàng được coi là tập hợp các tác nhân kinh tế (hay các phần hợp thành các tác nhân) quy tụ trực tiếp vào việc tạo ra các sản phẩm cuối cùng”.
Như vậy, ngành hàng đã vạch ra sự kế tiếp của các hành động xuất phát từ điểm ban đầu tới điểm cuối cùng của một nguồn lực hay một sản phẩm trung gian, trải qua nhiều giai đoạn của quá trình gia công, chế biến để tạo ra một hay nhiều sản phẩm hoàn tất ở mức độ của người tiêu thụ.[7] Có thể hiểu ngành hàng là “Tập hợp những tác nhân (hay những phần hợp thành tác nhân) kinh tế đóng góp trực tiếp vào sản xuất tiếp đó là gia công, chế biến và tiêu thụ ở một thị trường hoàn hảo của sản phẩm nông nghiệp”.[1] n 5 Như vậy, nói đến ngành hàng là ta hình dung đó là một chuỗi, một quá trình khép kín, có điểm đầu và điểm kết thúc, bao gồm nhiều yếu tố động, có quan hệ móc xích với nhau. Sự tăng lên hay giảm đi của yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới các yếu tố khác. Trong quá trình vận hành của một ngành hàng đã tạo ra sự dịch chuyển các luồng vật chất trong ngành hàng đó. Sự dịch chuyển được xem xét theo 3 dạng như sau: [1] - Sự dịch chuyển về mặt thời gian Sản phẩm được tạo ra ở thời gian này lại được tiêu thụ ở thời gian khác.
Sự dịch chuyển này giúp ta điều chỉnh mức cung ứng thực phẩm theo mùa vụ. Để thực hiện tốt sự dịch chuyển này cần phải làm tốt công tác bảo quản và dự trữ thực phẩm. - Sự dịch chuyển về mặt không gian Trong thực tế, sản phẩm được tạo ra ở nơi này nhưng lại được dùng ở nơi khác. Ở đây đòi hỏi phải nhận biết được các kênh phân phối của sản phẩm.
Sự dịch chuyển này giúp ta thoả mãn tiêu dùng thực phẩm cho mọi vùng, mọi tầng lớp của nhân dân trong nước và đó là cơ sở không thể thiếu được để sản phẩm trở thành hàng hoá. Điều kiện cần thiết của chuyển dịch là sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, công nghệ chế biến và chính sách mở rộng giao lưu kinh tế của Chính phủ. - Sự dịch chuyển về mặt tính chất (hình thái của sản phẩm) Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi qua mỗi lần tác động của công nghệ chế biến. Chuyển dịch về mặt tính chất làm cho chủng loại sản phẩm ngày càng phong phú và nó được phát triển theo sở thích của người tiêu dùng và trình độ chế biến.
Hình dạng và tính chất của sản phẩm bị thay đổi càng nhiều thì càng có nhiều sản phẩm mới được tạo ra. Trong thực tế, sự chuyển dịch của các luồng vật chất này diễn ra rất phức tạp và phụ thuộc vào hàng loạt các yếu tố về tự nhiên, công nghệ và chính sách. Hơn nữa, theo Fabre thì “ngành hàng là sự hình thức hoá dưới dạng mô n 6 hình đơn giản làm hiểu rõ tổ chức của các luồng (vật chất hay tài chính) và của các tác nhân hoạt động tập trung vào những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và các phương thức điều tiết”.2 Tác nhân Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình. Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ.
[7] Tác nhân được phân ra làm hai loại: - Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,…) - Tác nhân đợn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy,…) Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động.