Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Khái niệm về tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng Anh gọi là Credit.
Theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng h́ nh thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu. Tín dụng là mối quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.
Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi”. Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Tín dụng là những hành động cho vay, bán chịu hàng hoá và vốn giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giảm mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức.
Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn và giá trị thanh toán”. Khái niệm chuỗi giá trị Cụm từ chuỗi giá trị đề cập tới đầy đủ tất cả các hoạt động cần thiết để tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó từ trạng thái khái niệm, quá trình sản xuất, phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng và xử lý sau khi tiêu dùng e 6 (Kalinsky 1999, Kaplinsky và morris 2001). Theo đó, một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả các thành phần trong chuỗi hoạt động và phối hợp tạo ra giá trị tối đa trong toàn chuỗi (M4P 2008) [24]. Khái niệm này có thể giải thích theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng.
Theo nghĩa hẹp, một chuỗi giá trị gồm các hoạt động được thực hiện trong một công ty, tổ chức để sản xuất ra một sản phẩm nào đó. Các hoạt động này có thể bao gồm: giai đoạn hình thành ý tưởng và thiết kế, khâu mua vật tư đầu vào, khâu sản xuất trực tiếp, khâu tiếp thị và phân phân phối, khâu hậu mãi. Tất cả các hoạt động này cấu thành chuỗi giá trị kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, đồng thời hoạt động đều đóng góp giá trị cho sản phẩm cuối cùng. Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng, đó là một phức hợp các hoạt động phức tạp do nhiều tác nhân (người sản xuất ban đầu, nhà chế biến, nhà thương mại, nhà cung cấp dịch vụ…) khác nhau tham gia thực hiện để chế biến nguyên liệu thô thành sản phẩm tiêu dung thông qua một chuỗi giá trị.
Chuỗi gái trị theo nghĩa rộng sẽ bắt đầu từ tác nhân sản xuất nguyên liệu đầu vào thô và theo mối liên kết trong chuỗi đi qua các khâu chế biến, sản xuất, lắp ráp thương mại và tiêu dùng. Các tiếp cận theo nghĩa rộng không chỉ xem xét các hoạt đọng trong một doanh nghiệp thực hiện. Hơn thế, nó còn xét tới các mối liên kết trước và sau tác nhân của nó, từ khi nguyên liệu thô được sản xuất cho tới khi sản phẩm cuối cùng được tiêu thụ. Chuỗi giá trị được sử dụng trong nghiên cứu nay được hiểu theo nghĩa rộng.
Về mặt lý thuyết, có ba dòng nghiên cứu chính trong tài liệu chuỗi giá trị được phân biệt như sau: (1) khung khái niệm của Porter (1985); (2) tiếp cận filière (phân tích vàng- CCA); (3) tiếp cận toàn cầu do Kaplinsky (1999), Gereffi (1994, 1999, 2003) và korzeniewicz 1994 đề xuất. Trong đó, khung khái niệm của Micheal Porter xác định chuỗi giá trị theo nghĩa hẹp: Một chuỗi giá trị gồm một chuỗi các hoạt động được thực e 7 hiện trong phạm vị một cộng ty để sản xuất ra một sản lượng nào đó. Cách tiếp cận phương pháp “filière” - Phân tích chuỗi - Conmodity Chain Analysis có các đặc điểm chính là (1) tập trung vào những vấn đề của cá mối quan hệ định lượng và vật chất trong chuỗi; (2) sơ đồ hóa các dòng chảy của hàng hóa vật chất; (3) sơ đồ hóa các quan hệ chuyển dạng sản phẩm. Phương pháp tiếp cận toàn cầu xem xét cách thức mà các công ty và các quốc gia hội nhập toàn cầu và đánh giá các yếu tố quyết định của sự phân phối thu nhập toàn cầu, phân chia tổng thu nhập của chuỗi giá trị thành thu nhập cho các tác nhân trong chuỗi và hiểu các công ty, khu vực và quốc gia được liên kết với nền kinh tế toàn cầu như thế nào.
Cần phân biệt hai khái niệm là chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị được sử dụng trong nghiên cứu kinh tế nhằm phân tích hoạt động tài chính, kinh tế chuỗi như doanh thu, chi phí, giá trị gia tăng, lợi nhuận và những đóng góp mà chuỗi mang lại như tổng doanh thu, tổng giá trị gia tăng, thu nhập mà chuỗi mang lại; còn chuỗi cung ứng thương được sử dụng trong hoạt động quản trị kinh doanh để tìm hiểu về quá trinh hoạt động của quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, chuỗi cung ứng tìm hiểu các vấn đề trong chuỗi như cấu hình mạng lưới phân phối, kiểm soát tồn kho, các hợp đông cung ứng, tích hợp chuỗi cung ứng và cộng tác chiến lược, chiến lược sử dụng ngoại lực và thu mua, thiết kế sản phẩm, công nghệ thông tin và hệ thống hỗ trợ ra quyết định và giá trị khách hàng. Khung phân tích Hiện nay trên thế giới có nhiều khung phân tích chuỗi giá trị khác nhau được sử dụng đến nghiên cứu, các tác giả sẽ lựa chọn một khung phân tích hoặc phối hợp nhiều khung phân tích có điều chỉnh để phù hợp cho mục đích nghiên cứu của mình, một số khung phân tích phổ biến và hiệu quả hiện nay do các chuyên gia, tổ chức quốc tế xây dựng như khúc phân tích để chuỗi giá trị hiệu quả hơn vì người M4P, phương pháp luận thúc đẩy chuỗi giá trị của e 8 GTZ, khung phân tích chuỗi giá trị theo tài chính và kinh tế của FAO, và khung phân tích chuỗi giá trị doanh nghiệp theo Micheal Porter. - Phương pháp luận thúc đẩy chuỗi của GTZ Trong phương pháp luận thúc đẩy chuỗi giá trị bao gồm 12 module, được chia theo từng chu kỳ của mỗi dự án. Bắt đầu bằng việc quyết dịnh xem có nên tham gia vào việc thúc đẩy chuỗi gá trị với các cách tiếp cận phát triển khác không và làm thế nào để kết hợp việc thúc đẩy chuỗi giá trị với các cách tiếp cận phát triển khác (module 0).
Bước đầu tiên trong thúc đẩy chuỗi giá trị là việc các định chuỗi giá trị cần thúc đẩy (module 1), tiếp đó là phân tích chuỗi giá trị (module 2) và xây dựng một chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị (module 3). Module 4 trình bày những kiến thức danh cho những tổ chức hỗ trợ của các dự án thúc đẩy chuỗi giá trị. Các module tiếp theo (từ 5 đến 10) đều nói về việc thực hiện dự án. Có ba lĩnh vực hành động cần phân biệt, đó là các liên kết kinh doanh (module 5-6), các dịch vụ (module 7-8) và môi trường kinh doanh trong đó có các tiêu chuẩn (module 9-10).
Cuối cùng là module 11 là bước cuối cùng trong phân tích, với các kiến thưc về việc theo dõi tác động và quản lý để đạt được các kết quả phát triển. Nghiên cứu và nâng cấp chuỗi giá trị nằm trong module 2 và 3. Cụ thể module 2 được thể hiện trong các thành phần, hàng hóa, quan hệ. trong chuỗi giá trị.
Nó bao gồm ba bước: i) Một là lập bản đồ chuỗi giá trị, ii)hai là lượng hóa và phân tích chi tiết chuỗi giá trị và iii) ba là phân tích kinh tế đối với chuỗi giá trị. Trong bước 2, phương pháp luận nói về phân tích định lượng của chuỗi giá trị, đặc biệt, bước đề cập đến phân tích kinh tế của chuỗi với giá trị gia tăng, chi phí trung gian và tổng giá trị của chuỗi với giá thị trường Module 3 nói về chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động: i) thống nhất về tầm nhìn và chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị; ii) hai là phân tích các thuận lợi và khó khăn; iii) ba là đặt ra các mục tiêu nâng cấp e 9 mang tính vận hành; iv) bốn là xác định cac chủ thể tham gia vào việc thực hiện chiến lược nâng cấp; v) năm là dự báo tác động của việc nâng cấp chuỗi. Để chuỗi giá trị hiệu quả hơn vì người nghèo của M4P Với mục tiêu phân tích chuỗi giá trị phục vụ mục tiêu gia tăng thu nhập cho người nghèo, mô hình của M4P thiên về phân tích chi phí - lợi nhuận và phân chia thu nhập giữa các tác nhân trong chuỗi. Cơ sở để gia tăng thu nhập cho người nghèo theo hai cách, một là gia tăng tổng giá trị hay thu nhập của chuỗi, hai là tăng tỷ lệ phân chia thu nhập cho người nghèo.
Mô hình phân tích chuỗi giá trị của M4P chỉ tập trung đi vào phân tích chuỗi giá trị với 8 công cụ khác nhau: 1) lựa chọn các chuỗi giá trị ưu tiên phân tích, 2) lập sơ đồ chuỗi giá trị. 3) phân tích chi phí và lợi nhuận, 4) phân tích công nghệ, kiến thức và nâng cấp. 5) phân tích thu nhập trong chuỗi, 6) phân tích việc làm trong chuỗi. 7) Quản trị và dịch vụ.
8) phân tích liên kết trong chuỗi giá trị. Trong công cụ 3 phân tích về chi phí và lợi nhuận, bao gồm 8 bước khác nhau: 1) xác định chi phí và mức vốn đầu tư cần thiết. 2)tính doanh thu trên người tham gia. 3) tính tỷ suất tài chính.
4) những thay đổi qua thời gian. 5) vị thế tại chính tương đối của những người tham gia chuỗi. 6) tính chi phí cơ hội, 7) điểm chuẩn. 8) đi xa hơn dữ liệu định lượng [24].
Phân tích chuỗi ngành hàng FAO. Theo FAO, phân tích chuỗi ngành hàng là một phần trong phân tích chuỗi giá trị dựa trên lý thuyết của chuỗi giá trị.