Tổng quan luận án

Công trình "Biến đổi văn hóa của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số 9.01) của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Cường, được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Tế.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia hình thành trên các trụ cột cơ bản: kinh tế, chính trị - xã hội, môi trường và văn hóa. Trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam, văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận cấu thành nền văn hóa thống nhất trong đa dạng. Dân tộc Ba Na là một trong những cộng đồng cư dân bản địa lâu đời tại vùng Bắc Tây Nguyên, sáng tạo nên một hệ thống giá trị văn hóa vật chất và tinh thần gắn liền với không gian cư trú nương rẫy và rừng núi.

Hiện nay, quá trình đô thị hóa cùng với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường đang diễn ra mạnh mẽ tại tỉnh Kon Tum. Quá trình này tạo nên những biến đổi sâu sắc trong phương thức sản xuất, quy hoạch phân bố dân cư, chính sách đất đai và lối sống xã hội. Bên cạnh những chuyển biến theo hướng thích nghi và tiến bộ, văn hóa truyền thống của người Ba Na đang đối mặt với nguy cơ biến dạng, phai nhạt và mai một bản sắc; thế hệ nghệ nhân lớn tuổi am hiểu tri thức dân gian ngày càng giảm sút, trong khi một bộ phận thế hệ trẻ có biểu hiện xa rời phong tục tập quán truyền thống. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần có một công trình tiếp cận dưới góc độ triết học văn hóa nhằm luận giải tính tất yếu khách quan, quy luật vận động của mối quan hệ biện chứng giữa sự biến đổi cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng văn hóa tộc người Ba Na trong bối cảnh đô thị hóa cụ thể tại địa phương, từ đó xây dựng hệ thống định hướng và giải pháp bảo tồn, phát huy phù hợp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở luận giải những vấn đề lý luận chung về văn hóa, văn hóa truyền thống và biến đổi văn hóa, luận án đánh giá thực trạng, chỉ ra các yếu tố tác động, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Trình bày một cách hệ thống những vấn đề lý luận chung về văn hóa, văn hóa truyền thống, biến đổi văn hóa; phân tích những biểu hiện văn hóa truyền thống của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa.
    2. Phân tích các yếu tố tác động, xu hướng biến đổi và thực trạng biến đổi văn hóa dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay trên cả hai bình diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
    3. Đề xuất hệ thống phương hướng và các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự biến đổi văn hóa của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum dưới tác động của quá trình đô thị hóa hiện nay (bao gồm các thành tố văn hóa vật chất: sản xuất sinh kế, ẩm thực, trang phục, nhà ở; và văn hóa tinh thần: ngôn ngữ, lễ hội, sinh hoạt văn nghệ, lối sống).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Kon Tum, tập trung khảo sát các khu vực tập trung đông dân tộc Ba Na và chịu tác động trực tiếp của đô thị hóa như thành phố Kon Tum và các huyện lân cận gồm Đắk Hà, Kon Rẫy.
  • Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát tiến trình đô thị hóa từ thời kỳ đổi mới đến nay, tập trung khai thác các dữ liệu thực địa và số liệu thống kê trong giai đoạn 2010 đến 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia theo ba nhóm hướng tiếp cận cơ bản:

                      (Vũ Thị Hồng, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Chí Bền, Lê Hồng Lý & CS;
                       Henri Maitre, Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Bùi Minh Đạo & CS...)

Các hướng nghiên cứu lý luận chung về văn hóa và biến đổi văn hóa

  • Các công trình quốc tế: Các nghiên cứu kinh điển đặt nền móng lý luận văn hóa Mác-xít như Triết học văn hóa (1975) của Migôlatep A.; Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin (1976) của Annônđốp A.I chủ biên; Những vấn đề triết học của văn hóa (1997) của Actannốpxki S.; Tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội (1997) của Cairan V.; công trình của J. Fitcher do Trần Văn Đỉnh dịch (1972) về Văn hóa là hình thái toàn diện của hệ thống thể chế; và bộ sách Cải cách thể chế văn hóa của Khang Thức Chiêu. Các tác phẩm này phân tích bản chất của văn hóa và quy luật biến đổi văn hóa trong mối liên hệ với cấu trúc xã hội.
  • Các công trình trong nước: Tiêu biểu là các nghiên cứu của Hoàng Vinh (1996, 1997) về lý luận văn hóa thời kỳ đổi mới và bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; Huỳnh Khái Vinh về văn hóa văn nghệ vì sự phát triển xã hội và phát huy bản sắc văn hóa trong công nghiệp hóa; Trần Quốc Vượng (1998) với Cơ sở văn hóa Việt Nam; Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002) phân tích giá trị truyền thống trước thách thức toàn cầu hóa; Nguyễn Huy Hoàng (2002) với các vấn đề triết học văn hóa; Doãn Chính phân tích lối sống và tư duy; Ngô Đức Thịnh (2004, 2010) khảo sát bản sắc văn hóa tộc người và hệ giá trị truyền thống; Trần Văn Giàu (2011) làm rõ giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc; cùng các nghiên cứu của Đinh Xuân Dũng, Bùi Hoài Sơn (2022) về vai trò của hệ giá trị văn hóa đối với sự phát triển bền vững.

Các công trình nghiên cứu văn hóa và biến đổi văn hóa trong đô thị hóa

  • Nghiên cứu quốc tế: Lý thuyết đô thị hóa của K. Davis phân tích biến động dân số nông thôn - đô thị giai đoạn 1950-1970 và dự báo đến năm 2000; lý thuyết hệ thống thế giới (World-system theory and the study of comparative urbanization) xem xét đô thị hóa như phản ứng nội tại trong nền kinh tế toàn cầu.
  • Nghiên cứu trong nước: Công trình Đô thị Việt Nam của Đàm Trung Phường; nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội về đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á; Lê Du Phong khảo sát ảnh hưởng đô thị hóa đến nông thôn ngoại thành Hà Nội giai đoạn 1991-2000; Nguyễn Thanh Tuấn phân tích 5 đặc trưng của văn hóa đô thị so với văn hóa nông thôn; Trương Minh Dục và Lê Văn Định nghiên cứu văn hóa và lối sống đô thị; công trình của Phạm Quang Minh, Nguyễn Văn Sửu, Ien Ang, Gay Hawkins (2016) về toàn cầu hóa và thay đổi đô thị đương đại; Phạm Duy Đức bàn về bản sắc văn hóa trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Các công trình về văn hóa dân tộc thiểu số và dân tộc Ba Na

  • Nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số Tây Nguyên: Vũ Thị Hồng nghiên cứu nhân học tộc người Tây Nguyên; Ngô Đức Thịnh nghiên cứu sự biến đổi của luật tục và phong tục truyền thống; Nguyễn Chí Bền nghiên cứu giá trị của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phương Châm, Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương, Trần Hoài, Đoàn Thị Tuyến (2014) khảo sát văn hóa các tộc người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên; bên cạnh các nghiên cứu trường hợp của Nguyễn Thị Hằng (người Mường ở Hòa Bình), Nguyễn Thị Hồng Tâm (người Thái ở Mai Châu), Nguyễn Đức Hanh (người Ê Đê ở Đắk Lắk).
  • Nghiên cứu trực tiếp về dân tộc Ba Na: Công trình khảo sát du ký Les Jungles Moï của Henri Maitre; nghiên cứu dân tộc học kinh điển Người Ba Na ở Kon Tum của Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi; tài liệu về bộ lạc Bahnar của P. Guillemmet; nghiên cứu Lễ hội Pơ thi trong đời sống của người Ba Na và người Gia Rai của Nguyễn Từ Chi và Nguyễn Duy Thiệu; công trình chuyên khảo Dân tộc Ba Na ở Việt Nam của Bùi Minh Đạo, Trần Hồng Thu, Bùi Bích Lan (2006); nghiên cứu của Đoàn Anh Tuấn về nghi lễ nông nghiệp của người Ba Na ở Gia Lai.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận văn hóa Ba Na thuần túy dưới góc độ dân tộc học mô tả trạng thái tĩnh, hoặc khảo sát diện rộng toàn vùng Tây Nguyên, hoặc đánh giá biến đổi ở phạm vi nông thôn chuyển đổi. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Phân tích có hệ thống sự biến đổi đồng thời cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần của riêng cộng đồng dân tộc Ba Na tại địa bàn tỉnh Kon Tum dưới tác động đặc thù của tiến trình đô thị hóa; vận dụng quan điểm triết học Mác - Lênin để làm rõ quy luật vận động biện chứng giữa cơ sở kinh tế đô thị và kiến trúc thượng tầng văn hóa, từ đó xác lập luận cứ thực chứng phục vụ hoạch định chính sách bảo tồn cấp địa phương.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Hệ thống lý luận, khái niệm và khung phân tích

Luận án vận dụng hệ thống lý luận triết học và các học thuyết văn hóa chuyên ngành:

  • Lý luận triết học Mác - Lênin: Sử dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trọng tâm là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng ("Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng" - C. Mác). Luận án cũng dựa vào luận điểm trong tác phẩm Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh của Ph. Ăngghen về tác động của sản xuất công nghiệp và đô thị hóa làm biến đổi đời sống tinh thần, cùng nguyên lý "sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất vật chất" (Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản).
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Tư tưởng "Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi", đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xem văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển bền vững (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Văn kiện Đại hội XIII).
  • Các lý thuyết văn hóa học và nhân học: Thuyết truyền bá văn hóa (G. Rivers, 1914); Thuyết vùng văn hóa (C. Kroeber, 1925); Thuyết tiếp biến văn hóa (Redfield, 1934; Broom, 1954); Thuyết chức năng văn hóa (Radcliffe-Brown, 1952; B. Malinowski, 1944).
  • Khung khái niệm: Khái niệm văn hóa, văn hóa truyền thống, giá trị văn hóa truyền thống (kế thừa định nghĩa của Trần Văn Giàu, Bùi Hoài Sơn, Phạm Đức Dương), và biến đổi văn hóa (tiếp thu luận điểm của Nguyễn Thị Phương Châm, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Thanh Liêm: biến đổi văn hóa là quá trình thay đổi các thành tố văn hóa, mang tính liên tục, tiệm tiến và đan xen giữa cũ và mới).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Triết học, sử dụng phối hợp các phương pháp:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp logic kết hợp với lịch sử.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học định tính: Khảo sát thực tế tại các buôn làng người Ba Na ở tỉnh Kon Tum; quan sát tham dự các thực hành đời sống văn hóa, sinh hoạt lễ hội; phỏng vấn sâu các nghệ nhân am hiểu văn hóa truyền thống (Nghệ nhân A Lưu, Nghệ nhân A Jar), già làng uy tín (già làng A Huy) và người dân địa phương.
  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Xử lý và đối sánh các văn bản quản lý, văn kiện chính sách và niên giám thống kê.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu thực địa từ các đợt khảo sát, phỏng vấn sâu cá nhân, tư liệu quan sát trực tiếp của tác giả tại Kon Tum.
  • Tư liệu thứ cấp: Số liệu chính thức từ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê; số liệu của Cục Thống kê tỉnh Kon Tum năm 2019; các báo cáo và văn kiện của Tỉnh ủy Kon Tum, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum; các công trình chuyên khảo lịch sử, dân tộc học đã xuất bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về văn hóa, văn hóa truyền thống, biến đổi văn hóa và văn hóa truyền thống của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa

Chương 1 hệ thống hóa các quan niệm lý luận nền tảng, phác thảo bức tranh văn hóa truyền thống của người Ba Na và luận giải tính tất yếu của biến đổi văn hóa.

1. Lý luận chung về văn hóa, văn hóa truyền thống và biến đổi văn hóa

Tác giả phân tích các khái niệm: Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo; văn hóa truyền thống là những giá trị ổn định được tích lũy và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Biến đổi văn hóa được nhìn nhận là quá trình khách quan diễn ra dưới sự tác động của các động thái kinh tế, chính trị, xã hội, mang tính tiệm tiến và luôn có sự kế thừa, thích ứng.

2. Đặc điểm dân cư và môi trường cư trú của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum

  • Tên gọi và nhóm địa phương: Dân tộc Ba Na (các tên gọi khác: Bahnar, Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông; người Ba Na tự gọi là kon kôông - người ở núi, để phân biệt với kon doan - người Kinh ở đồng bằng). Ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm Môn - Khmer (phân ngành Banaríc Bắc). Chữ viết Ba Na theo mẫu tự Latinh ra đời từ năm 1861. Tại tỉnh Kon Tum, dân tộc Ba Na gồm 2 nhánh chính: Ba Na Rơ Ngao (cư trú tại khoảng 29 làng xen kẽ với nhóm Ba Na Kon Tum) và Ba Na Jơ Lăng (Ba Na Jơ lơng).
  • Nhân khẩu: Dân tộc Ba Na xếp thứ nhất trong các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer tại miền núi Nam Trung Bộ và thứ 3 trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên (sau Gia Rai và Ê Đê).
Phạm vi / Mốc thời gian Số lượng dân số (Người) Ghi chú theo văn bản
Cả nước (Năm 2019) 286.910 Xếp thứ 12 trong 53 dân tộc thiểu số cả nước
Tỉnh Kon Tum (Năm 2010) 55.986 Dữ liệu Cục Thống kê tỉnh Kon Tum
Tỉnh Kon Tum (Giai đoạn 2010-2018) Tăng thêm 11.879 Mức tăng cơ học và tự nhiên
Tỉnh Kon Tum (Năm 2019) 67.865 Chiếm hơn 45% tổng số người Ba Na tại Việt Nam
  • Môi trường tự nhiên: Phân bố chủ yếu ở độ cao 500m - 800m (vùng trên núi Mang Yang). Đất đai gồm ba nhóm chính: đất đỏ bazan (thuận lợi trồng cà phê, cao su), đất phù sa bồi lắng ven sông Đăk Bla, Pô Kô (thuận lợi trồng trọt lúa nước và hoa màu), và đất xám đen trên đồi núi. Khí hậu chia hai mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 3). Tài nguyên rừng đóng vai trò sinh thái và tâm linh thiêng liêng ("sống với rừng, hòa vào rừng, do rừng và vì rừng").

3. Những biểu hiện trong văn hóa truyền thống của dân tộc Ba Na

  • Văn hóa vật chất truyền thống:
    • Canh tác nương rẫy: Nông nghiệp nương rẫy đóng vai trò chủ đạo, thực hiện theo phương thức luân khoảnh chu kỳ kín (chu kỳ bỏ hóa đất không dưới 10 năm). Cây trồng chính là lúa rẫy (ba), ngô (hbo), sắn (bum pơ lăng), kê (gao), bo bo (t'roopu); cùng các loại cây thực phẩm (vừng, cà, ớt, bầu, mướp), cây ăn quả và cây nguyên liệu thủ công (bông k'pai, thuốc lá hất).
    • Công cụ lao động: Rìu (sung), rựa (kơh), dao có móc (kăk), gậy chọc lỗ (long rơ mul), ống lồ ô tra hạt (đing soi), gùi nhỏ (hjác), gùi lớn (reng prông).
    • Chăn nuôi: Vật nuôi gồm trâu (kpô), lợn (nhung), chó (cọ), gà (ier). Trâu là vật nuôi quan trọng nhất, biểu tượng cho sự giàu có và quyền lực buôn làng. Chăn nuôi mang tính thả rông tự nhiên.
    • Nghề thủ công: Nghề dệt thổ cẩm sử dụng sợi bông tự nhiên và màu nhuộm từ lá rừng; nghề đan lát và nghề rèn phục vụ tự cấp tự túc.
    • Nhà ở: Nhà sàn truyền thống và nhà rông - trung tâm sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng và hành chính của buôn làng.
  • Văn hóa tinh thần truyền thống: Hệ thống nghi lễ nông nghiệp gắn với chu kỳ sản xuất nương rẫy; lễ hội Pơ thi (bỏ mả); diễn xướng âm nhạc cồng chiêng, hát kể sử thi (hơmon); các quy phạm luật tục duy trì tính cố kết cộng đồng làng.

4. Quá trình đô thị hóa và tính tất yếu của biến đổi văn hóa

Quá trình đô thị hóa tại Kon Tum làm thay đổi mặt bằng cảnh quan, hạ tầng giao thông và cơ cấu sử dụng đất. Sự thay đổi cơ sở kinh tế tất yếu đòi hỏi sự thay đổi tương ứng của cấu trúc văn hóa để cộng đồng thích nghi và tồn tại.


Chương 2: Thực trạng biến đổi văn hóa dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay

1. Những yếu tố tác động đến biến đổi văn hóa

Tác giả xác định 4 yếu tố tác động trực tiếp:

  • Đô thị hóa: Làm thu hẹp không gian rừng và đất canh tác truyền thống, chuyển dịch ranh giới hành chính từ làng nông thôn sang tổ dân phố, phường đô thị.
  • Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Đưa các quan hệ kinh tế hàng hóa - tiền tệ vào buôn làng, phá vỡ tính chất tự cung tự cấp.
  • Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước: Các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
  • Toàn cầu hóa và hội nhập: Sự thâm nhập của công nghệ thông tin, mạng viễn thông và văn hóa ngoại lai.

2. Thực trạng biến đổi văn hóa vật chất

  • Biến đổi trong sản xuất sinh kế: Diện tích đất canh tác nương rẫy bị thu hẹp do quy hoạch đô thị. Đồng bào Ba Na chuyển dịch sang trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su), phát triển chăn nuôi có chuồng trại, hoặc chuyển sang làm công nhân tại các nhà máy, cụm công nghiệp, tham gia lao động dịch vụ đô thị. Tập quán đổi công truyền thống suy giảm, thay thế bằng quan hệ thuê mướn lao động theo thị trường.
  • Biến đổi trong văn hóa ẩm thực: Nguồn lương thực, thực phẩm phụ thuộc ngày càng nhiều vào mạng lưới chợ và cửa hàng tiện ích thay vì khai thác tự nhiên từ rừng và suối. Xuất hiện phổ biến các thực phẩm công nghiệp, gia vị công nghiệp; bia và rượu đóng chai công nghiệp thay thế một phần rượu cần trong các dịp giao lưu thường nhật.
  • Biến đổi trong trang phục truyền thống: Trang phục âu hóa (quần âu, áo sơ mi, áo phông) chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống lao động hằng ngày của tất cả các lứa tuổi. Trang phục dệt thổ cẩm truyền thống thu hẹp không gian sử dụng, chỉ còn xuất hiện trong các dịp lễ hội lớn, ngày hội văn hóa, hoặc khi đi lễ nhà thờ. Nghề dệt thổ cẩm thủ công mai một dần do thiếu nguyên liệu tự nhiên và thời gian thực hiện.
  • Biến đổi về nhà ở: Mô hình nhà sàn gỗ lợp tranh tre truyền thống giảm mạnh, thay thế bằng các kiểu nhà xây gạch kiên cố, mái lợp tôn hoặc nhà bê tông cốt thép dạng phân lô đô thị. Mặt bằng cư trú buôn làng truyền thống (quây quần quanh nhà rông) bị chia cắt bởi hệ thống đường giao thông và các khu dân cư mới.

3. Thực trạng biến đổi văn hóa tinh thần

  • Biến đổi về ngôn ngữ: Tiếng Ba Na ít được thế hệ thanh thiếu niên sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt gia đình; tình trạng sử dụng xen kẽ tiếng Việt trở nên phổ biến. Tỷ lệ người Ba Na trẻ tuổi có khả năng đọc và viết thành thạo chữ Ba Na theo mẫu tự Latinh suy giảm.
  • Biến đổi trong lễ hội: Nhiều lễ thức gắn chặt với chu kỳ sản xuất nương rẫy (lễ chọc lỗ tỉa lúa, lễ cúng lúa mới) bị tinh giản hoặc biến mất do phương thức canh tác thay đổi. Một số lễ hội truyền thống bị hành chính hóa hoặc cải biến nhằm mục đích trình diễn phục vụ du lịch.
  • Biến đổi trong sinh hoạt văn nghệ: Không gian diễn xướng cồng chiêng bị thu hẹp; số lượng nghệ nhân nhớ và kể được trọn vẹn các sử thi (hơmon) ngày càng ít; các nhạc cụ chế tác từ tre nứa (đàn tính, t’rưng) ít được chế tác và sử dụng trong đời sống thường nhật.
  • Biến đổi trong lối sống: Tính cộng đồng khép kín chuyển dần sang lối sống cá nhân hóa, đề cao lợi ích kinh tế hộ gia đình; các mối quan hệ xóm giềng buôn làng lỏng lẻo hơn trước; hình thành sự va chạm giữa các giá trị ứng xử truyền thống tôn trọng già làng với lối sống thực dụng đô thị mới.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay

1. Phương hướng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

  • Quán triệt đầy đủ, sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về văn hóa: Giữ gìn bản sắc văn hóa gắn liền với việc loại bỏ các tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan.
  • Xác định công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa là trách nhiệm của toàn xã hội và cả hệ thống chính trị: Trong đó ngành văn hóa - thông tin giữ vai trò tham mưu chuyên môn, còn cộng đồng dân tộc Ba Na đóng vai trò chủ thể sáng tạo và gìn giữ.
  • Gắn kết chặt chẽ công tác bảo tồn văn hóa với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum: Đưa văn hóa thành nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.
  • Bảo đảm kết hợp hài hòa giữa cái chung và cái riêng, cái đặc thù: Bảo tồn nét đặc thù tộc người Ba Na nhưng đồng thời phải bảo đảm sự hòa nhập thống nhất vào nền văn hóa chung của quốc gia.

2. Năm nhóm giải pháp thực hiện cụ thể

  1. Nâng cao nhận thức của toàn xã hội, trước hết là đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị và chính cộng đồng dân tộc Ba Na: Tuyên truyền nâng cao lòng tự hào dân tộc, khắc phục tâm lý tự ti hoặc quay lưng với văn hóa truyền thống ở thế hệ trẻ.
  2. Phát triển kinh tế - xã hội tạo điều kiện, tiền đề vật chất: Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiệu quả, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao mức sống để người dân có điều kiện thực hành và trao truyền văn hóa.
  3. Tăng mức đầu tư nguồn lực vật chất, tài chính: Cấp phát ngân sách thỏa đáng cho các đề án phục dựng nhà rông truyền thống, bảo tồn không gian cồng chiêng, hỗ trợ mở các lớp truyền dạy nghề dệt thổ cẩm và nhạc cụ dân tộc.
  4. Nâng cao phẩm chất, năng lực và điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa - dân tộc: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ; nâng cao năng lực am hiểu văn hóa và phong tục tập quán bản địa.
  5. Phát huy vai trò tích cực, chủ động của từng người, từng gia đình, làng bản, nhất là những người có uy tín trong cộng đồng dân tộc Ba Na: Khuyến khích cơ chế đãi ngộ đối với các già làng, nghệ nhân dân gian nhằm tạo động lực truyền dạy ngôn ngữ, dân ca, sử thi cho thanh thiếu niên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử để làm rõ quy luật biến đổi văn hóa tộc người trong mối quan hệ biện chứng với sự thay đổi của cơ sở kinh tế đô thị tại một địa bàn miền núi Tây Nguyên.
  • Xác lập khung lý luận nhận diện tính hai mặt của quá trình biến đổi văn hóa: Biến đổi để thích nghi, hội nhập tiến bộ xã hội và nguy cơ tha hóa, đứt gãy các giá trị truyền thống cốt lõi.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phác họa bức tranh toàn diện, chi tiết và có hệ thống về thực trạng biến đổi văn hóa của người Ba Na ở Kon Tum từ năm 2010 đến năm 2023 trên cả bình diện văn hóa vật chất (sinh kế, ẩm thực, trang phục, nhà ở) và văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, lễ hội, văn nghệ, lối sống).
  • Đưa ra hệ thống 4 phương hướng mang tính nguyên tắc và 5 nhóm giải pháp cụ thể, khả thi, cung cấp cơ sở khoa học cho Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum và các cơ quan quản lý văn hóa trong việc xây dựng quy hoạch đô thị gắn với bảo tồn di sản văn hóa tộc người tại chỗ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Luận án tập trung khảo sát phạm vi không gian tỉnh Kon Tum (chủ yếu là nhánh Ba Na Rơ Ngao và Ba Na Jơ Lăng tại khu vực chịu tác động đô thị hóa), chưa có điều kiện khảo sát so sánh chuyên sâu với các nhánh Ba Na khác đang cư trú tại vùng đồi núi thấp hoặc ven biển thuộc các tỉnh Gia Lai, Bình Định, Phú Yên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu so sánh biến đổi văn hóa giữa các nhóm địa phương dân tộc Ba Na ở các vùng sinh thái và mức độ đô thị hóa khác nhau.
    • Nghiên cứu sâu về các mô hình sinh kế du lịch cộng đồng gắn với việc bảo tồn cấu trúc nhà rông và không gian cồng chiêng trong môi trường ven đô thị.

Giá trị tham khảo

  • Đối với đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Triết học (Triết học văn hóa, Triết học xã hội), Văn hóa học, Dân tộc học và Nhân học khi nghiên cứu về văn hóa Tây Nguyên và quy luật biến đổi văn hóa tộc người thiểu số.
  • Đối với công tác quản lý và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp các dữ liệu thực tế và luận cứ khoa học hữu ích cho Ban Dân tộc tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Kon Tum, cùng cấp ủy chính quyền địa phương trong việc hoạch định các đề án quy hoạch không gian làng đô thị, chính sách hỗ trợ nghệ nhân và chính sách bảo tồn tiếng nói, chữ viết dân tộc Ba Na.

Câu hỏi thường gặp

1. Dân tộc Ba Na tại tỉnh Kon Tum gồm những nhánh địa phương nào và quy mô dân số ra sao?

Theo số liệu trong luận án, dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum gồm 2 nhánh chính là Ba Na Rơ Ngao và Ba Na Jơ Lăng (Ba Na Jơ lơng). Căn cứ số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Ba Na cả nước có 286.910 người, trong đó tỉnh Kon Tum tập trung đông nhất với 67.865 người, chiếm hơn 45% tổng số người Ba Na tại Việt Nam.

2. Canh tác nương rẫy truyền thống của dân tộc Ba Na có những đặc trưng gì về kỹ thuật và công cụ?

Phương thức canh tác truyền thống là luân khoảnh khép kín (chu kỳ bỏ hóa đất không dưới 10 năm), trồng lúa rẫy (ba) là chính kết hợp ngô, sắn và rau màu. Công cụ lao động đặc trưng gồm rìu (sung), rựa (kơh), dao móc (kăk), gậy chọc lỗ (long rơ mul), ống tra hạt (đing soi), gùi (hjác, reng prông). Hoạt động sản xuất dựa chủ yếu vào hình thức đổi công tương trợ cộng đồng.

3. Đô thị hóa đã làm biến đổi kiến trúc nhà ở truyền thống của người Ba Na như thế nào?

Dưới tác động của quy hoạch đô thị và nguồn vật liệu mới, mô hình nhà sàn gỗ lợp tranh tre truyền thống gắn liền với không gian mở buôn làng đã suy giảm mạnh. Thay vào đó là các ngôi nhà xây kiên cố bằng gạch, lợp mái tôn hoặc đổ bê tông theo dạng phân lô nhà ống đô thị, làm phân tán cấu trúc làng quây quần quanh nhà rông.

4. Luận án chỉ ra những yếu tố khách quan và chủ quan nào tác động đến biến đổi văn hóa Ba Na?

Luận án xác định 4 yếu tố tác động cơ bản: (1) Quá trình mở rộng không gian và lối sống của đô thị hóa; (2) Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Việc thực hiện các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước; (4) Tác động đa chiều của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

5. Giải pháp then chốt nào được đề xuất nhằm phát huy vai trò chủ thể của người Ba Na trong bảo tồn văn hóa?

Luận án nhấn mạnh giải pháp phát huy tính tích cực, tự giác của từng cá nhân, gia đình và làng bản, trong đó đặc biệt chú trọng xây dựng cơ chế tôn vinh, đãi ngộ thỏa đáng đối với các già làng, nghệ nhân dân gian am hiểu văn hóa để họ đóng vai trò nòng cốt trong việc truyền dạy cồng chiêng, hát kể sử thi và nghề thủ công cho thế hệ trẻ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ Triết học của tác giả Đỗ Thị Cường đã nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện sự biến đổi văn hóa của dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum dưới tác động của quá trình đô thị hóa hiện nay. Trên nền tảng phương pháp luận duy vật lịch sử, công trình luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan của quá trình biến đổi, chỉ rõ những chuyển biến cụ thể trong từng thành tố văn hóa vật chất và tinh thần cùng các nguy cơ mai một bản sắc tộc người. Từ việc phân tích thực trạng khách quan, luận án đã xác lập hệ thống 4 phương hướng và 5 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống Ba Na, đóng góp luận cứ khoa học cho sự nghiệp phát triển bền vững tại tỉnh Kon Tum và khu vực Bắc Tây Nguyên.