PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sự phát triển bền vững của mỗi dân tộc, quốc gia bao gồm các trụ cột cơ bản là bền vững về kinh tế, bền vững về chính trị - xã hội, bền vững về môi trường và bền vững về văn hóa. Cùng với kinh tế, chính trị - xã hội, phát triển văn hóa, xây dựng con người phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và hiện đại là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển bền vững đất nước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi.
Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương trong Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay (1995), cũng từng nêu rằng: “Lịch sử dân tộc đã minh chứng rằng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập với thế giới để phát triển mà tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Đi vào kinh tế thị trường mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác” (tr. Khẳng định vấn đề này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát huy tối đa nhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển.
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. Thực tiễn nước ta trong những năm qua cho thấy: đồng thời với xây dựng, phát triển kinh tế phải coi trọng phát triển văn hóa, tạo môi trường văn hóa thích hợp cho sự phát triển vững chắc của đất nước trên tất cả các phương diện. Để đạt được điều đó, cần nhận thức đúng đắn vị trí, tầm quan trọng và sự tham gia của văn hóa trong quá trình phát triển, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi mặt của đời sống xã hội và từng con người, để văn hóa trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Là quốc gia có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống ở những địa hình đa dạng khác nhau, Việt Nam đã xây dựng một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, độc đáo và đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Trải qua quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt, các cộng đồng dân tộc đã sáng tạo và tích lũy nên những giá trị văn hóa mang 2 bản sắc riêng, góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng và đặc sắc trong bức tranh tổng thể văn hóa dân tộc Việt Nam. Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng khẳng định: “Mỗi dân tộc đều có truyền thống văn hóa của mình; phát triển văn hóa dân tộc chính là góp phần làm cho kho tàng văn hóa của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới thêm phong phú” (Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao, 1992, tr. Hơn thế, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số còn là cầu nối, cái nôi nuôi dưỡng, giáo dục con người, đó là tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết, tình nghĩa làng xóm, lòng bao dung yêu thương con người, sống hài hòa với thiên nhiên,. Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Nước ta là một đất nước thống nhất gồm nhiều dân tộc.
Các dân tộc anh em trong nước ta gắn bó ruột thịt với nhau trên một lãnh thổ chung và trải qua một lịch sử lâu đời cùng nhau lao động và đấu tranh để xây dựng Tổ quốc tươi đẹp (Hồ Chí Minh, 2011f, tr. Người còn ân cần nhắc nhở: Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề văn hóa, vị trí, vai trò của văn hóa các dân tộc thiểu số trong lịch sử hình thành và phát triển đất nước, các Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nêu cao tinh thần đồng bào các dân tộc thiểu số là máu thịt và là một bộ phận quan trọng khăng khít không thể tách rời của dân tộc Việt Nam.
Văn hóa các dân tộc thiểu số là một bộ phận đặc sắc, thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ là động lực mà còn là tài sản quý báu của dân tộc, góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cũng như công cuộc phát triển bền vững của đất nước. Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số lần thứ II diễn ra tại Hà Nội khẳng định: Đồng bào các dân tộc thiểu số là máu thịt của dân tộc Việt Nam, bộ phận không thể tách rời của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 54 dân tộc “như cây một cội, như con một nhà” đều mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, luôn kề vai sát cánh bên nhau chế ngự thiên nhiên, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 2020).
3 Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo, hỗ trợ đầu tư từ Đảng, Nhà nước, cuộc sống vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi và phát triển. Bên cạnh các điều kiện về cơ sở hạ tầng, kinh tế được đẩy mạnh phát triển, các lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, cũng như vấn đề văn hóa được chú trọng đầu tư, góp phần quan trọng vào công cuộc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Nhiều chương trình, phong trào vận động xây dựng văn hóa như Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, Phong trào xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, Ngày hội đại đoàn kết các dân tộc,… đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng tạo môi trường văn hóa, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, nhiều giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số được giữ gìn và phát huy. Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng nhìn chung đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều khó khăn.
Đặc biệt, đô thị hóa diễn ra với những thay đổi về phương thức sản xuất, cơ chế hành chính, chính sách quy hoạch đất đai, môi trường sống, lối sống nông thôn chuyển sang lối sống đô thị,… đã trực tiếp tác động làm biến đổi mạnh mẽ văn hóa các dân tộc thiểu số. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sinh hoạt hằng ngày như ăn, mặc, ở, đi lại, nhà ở cho đến tiếng nói, sinh hoạt văn nghệ, cũng như các khuôn mẫu, cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên… tất cả đều đang biến đổi. Dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum trong quá trình đô thị hóa hiện nay không nằm ngoài xu hướng trên. Kon Tum là một tỉnh miền núi thuộc Bắc Tây Nguyên, có 28 dân tộc anh em cùng sinh sống, có 7 dân tộc tại chỗ gồm Xơ Đăng, Ba Na, Gia Rai, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm, Hre (Hrê), đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 53% dân số toàn tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, 2020b, tr.
Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng thể hiện lịch sử hình thành phát triển, lòng tự tôn dân tộc, lối sống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các đặc điểm về tiếng nói, chữ viết, lễ hội, nhà ở, ẩm thực, trang phục truyền thống,… tạo thành nét đặc sắc của mỗi cộng đồng dân tộc. Văn hóa dân tộc Ba Na là một bộ phận cấu thành quan trọng trong sự đa dạng, thống nhất văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam. Hiện nay, quá trình đô thị hóa cùng với đó là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập và giao lưu quốc tế đang làm biến đổi mạnh mẽ văn hóa truyền thống dân tộc Ba Na.
Trong sự biến đổi đó, bên cạnh chiều hướng tích cực, tiến bộ, 4 có cả chiều hướng tiêu cực, thoái hóa, đáng chú ý là nguy cơ phai nhạt, mai một, biến dạng văn hóa truyền thống. Những người lớn tuổi và các nghệ nhân Ba Na am hiểu về văn hóa truyền thống dân tộc ngày càng ít đi, việc truyền dạy cho thế hệ trẻ chưa được kịp thời. Một bộ phận thanh niên là con em dân tộc Ba Na không quan tâm hoặc chưa nhận thức đầy đủ về văn hóa truyền thống dân tộc, có biểu hiện quay lưng lại với phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của dân tộc. “Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, nhất là ở các thôn đặc biệt khó khăn; kết cấu hạ tầng tuy được chú trọng đầu tư nhưng còn thiếu và chưa đồng bộ; kinh tế tập trung vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; người dân chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh là vùng có rừng và đất rừng để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống…” (Tỉnh ủy Kon Tum, 2021).
Tình trạng trên ảnh hưởng đến nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Ba Na trong quá trình đô thị hóa hiện nay. Cũng cần thấy rằng, một mặt dưới tác động trực tiếp, mạnh mẽ từ đô thị hóa, văn hóa dân tộc Ba Na ở tỉnh Kon Tum có nhiều biến đổi, mặt khác sự biến đổi đó là tất yếu khách quan, biến đổi để thích nghi, biến đổi để tồn tại và phát triển. Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm (2021) trong bài viết về Những biến đổi trong văn hóa Việt Nam cho rằng: “Không có một nền văn hóa nào đứng yên một chỗ, không có một nền văn hóa nào có thể giữ nguyên trạng thái của nó từ buổi ban đầu cho đến bây giờ dù người ta có cố bảo tồn duy trì nó mãi” (tr. Và “Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn với mở cửa giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác.