phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm có 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm và đô thị hoá; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Chƣơng 3: Thực trạng việc làm trong quá trình đô thị hoá tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; Chƣơng 4: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động tại thành phố Việt Trì trong quá trình đô thị hoá đến năm 2020. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ ĐÔ THỊ HOÁ 1. Khái niệm việc làm Có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về việc làm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm là phạm trù được dùng để chỉ bất cứ hoạt động nào nằm trong đường biên sản xuất của hệ thống tài khoản quốc gia (SNA).
Theo Điều 13, Bộ Luật lao động được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 23/6/1994, việc làm là các hoạt động tạo thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm. Theo Tổng cục Thống kê (Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 và các cuộc điều tra mẫu lao động - việc làm 2007 và 2009), việc làm là mọi hoạt động lao động từ 1 giờ trở lên tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Các đặc trưng về việc làm Có 3 thông tin cơ bản mô tả đặc trưng của việc làm đó là: Nghề nghiệp: Theo khuyến nghị của Liên hợp quốc, nghề nghiệp được hiểu là loại công việc mà người lao động đã làm trong tuần quan sát được quy định cho số liệu về đặc trưng kinh tế của người lao động có việc làm bất kể ngành kinh tế hoặc vị thế làm việc nào. Ngành kinh tế: Cùng với thông tin về loại công việc hay nghề nghiệp mà cá nhân người lao động tham gia, cũng cần biết loại hoạt động mà cơ sở, nơi người lao động đang làm việc, thực hiện.
Theo Liên hợp quốc, ngành kinh tế chỉ hoạt động của đơn vị, cơ sở nơi người lao động đã làm việc trong tuần quan sát quy định cho thông tin về đặc trưng kinh tế, hoặc đã làm trước đây nếu là người thất nghiệp. Hoạt động của đơn vị có nghĩa là loại hàng hoá hoặc dịch vụ được sản xuất hoặc cung cấp. 6 Vị thế làm việc: (như chủ cơ sở, lao động làm thuê,…) chỉ địa vị của một người hoạt động kinh tế trong mối liên hệ với những lao động khác, nếu có, trong cùng cơ quan/đơn vị và bao gồm các phân tổ như: người sử dụng lao động (chủ cơ sở sản xuất kinh doanh), lao động tự làm, lao động làm thuê, lao động gia đình không nhận tiền công và xã viên của một tổ sản xuất/hợp tác xã. Ý nghĩa của chỉ tiêu việc làm Việc làm là chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng vì các lý do chủ yếu sau đây: Thứ nhất, việc làm là cơ sở đầu tiên cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người, là căn cứ cho sự bình đẳng và dân chủ xã hội Thứ hai, việc làm phản ánh mức độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế.
Thông qua đo lường chỉ tiêu người có việc làm và năng suất lao động theo từng thời kỳ, có thể tính toán được quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Thứ ba, việc làm phản ánh mức độ sử dụng lao động và khả năng tạo việc làm của nền kinh tế thông qua chỉ tiêu về người có việc làm theo các phân tổ thời gian làm việc. Mặt khác, chỉ tiêu này cũng phản ánh năng suất lao động và phúc lợi xã hội của người lao động. Thứ tư, việc làm có quan hệ mật thiết và tác động trực tiếp đến tình trạng thất nghiệp.
Tỷ lệ lao động có việc làm đồng nghĩa với khả năng thất nghiệp thấp và do đó góp phần làm giảm các vấn đề xã hội. Thứ năm, việc làm cũng phản ánh phần nào mức độ bất bình đẳng giới trên thị trường lao động khi phân tổ lao động có việc làm theo giới tính, thu nhập, thời gian làm việc, vị thế công việc,… Thứ sáu, việc làm là cơ sở quan trọng để định hướng các chiến lược và chính sách vĩ mô. Sự hình thành thị trường lao động * Sức lao động là hàng hoá Theo các nhà khoa học kinh tế Việt Nam khái niệm “Thị trường lao động là toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực thuê mướn lao động (nó bao gồm các quan hệ lao động cơ bản nhất như thuê mướn và sa thải lao động, tiền lương và tiền công, bảo hiểm xã hội, tranh chấp lao động.), ở đó diễn ra sự trao đổi, thoả thuận giữa một bên là người lao động tự do và một bên là người sử dụng lao động”. “Thị trường lao động (hoặc thị trường sức lao động) là nơi thực hiện các quan hệ xã hội giữa người bán sức lao động (người lao động làm thuê) và người mua sức lao động (người sử dụng sức lao động), thông qua các hình thức thoả thuận về giá cả (tiền công, tiền lương) và các điều kiện làm việc khác, trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng văn bản, bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay thoả thuận khác”.
“Thị trường “sức lao động” là nơi thể hiện quan hệ xã hội giữa người lao động làm thuê và người thuê mướn lao động thông qua sự điều chỉnh giá cả tiền công”. “Thị trường lao động biểu hiện mối quan hệ giữa một bên là người có sức lao động và bên kia là người sử dụng sức lao động nhằm xác định số lượng và chất lượng lao động sẽ đem ra trao đổi và mức thù lao tương ứng”. Cung và cầu lao động: Cung lao động: Nguồn cung lao động là tập hợp tất cả những người lao động đang có nhu cầu lao động và sẵn sàng tham gia hoạt động lao động xã hội ở tại địa phương hoặc ở địa phương khác. Cầu lao động: Là tổng số nhu cầu số lượng và chất lượng lao động cần sử dụng trên các khu vực sản xuất, dịch vụ ở một địa phương.
Thất nghiệp, thiếu việc làm * Khái niệm, định nghĩa về thất nghiệp và thiếu việc làm: a. Thất nghiệp: Định nghĩa chuẩn quốc tế về thất nghiệp được dựa trên ba tiêu chuẩn phải thoả mãn riêng nếu có thể. Mặt khác, người có việc làm 8 tìm công việc khác hoặc công việc làm thêm phải loại ra khỏi nhóm người thất nghiệp. Cụ thể: Không làm việc Tiêu chuẩn “không làm việc” nhằm đưa ra ranh giới phân biệt giữa làm việc và không làm việc để đảm bảo rằng làm việc và thất nghiệp loại trừ lẫn nhau, với ưu tiên cho làm việc.
Do đó, một người được xem là không làm việc nếu trong thời kỳ quan sát người đó không làm bất kỳ công việc gì, cũng không tạm nghỉ việc. Hai tiêu chuẩn còn lại của định nghĩa chuẩn về thất nghiệp, tức, “sẵn sàng làm việc” và “tìm việc làm”, nhằm phân biệt trong dân số không làm việc những người thất nghiệp với những người không hoạt động kinh tế. Tìm việc làm Phù hợp với nguyên tắc hoạt động của phương pháp lực lượng lao động, tiêu chuẩn “tìm việc làm” được xây dựng theo định nghĩa tìm việc làm thực sự. Để được xem là tìm việc làm, thì người đó phải có những biện pháp cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể gần đây để nhận được việc làm.
Sẵn sàng làm việc ngay Theo tiêu chuẩn quốc tế, để được xếp là thất nghiệp thì trong thời kỳ quan sát người đó phải sẵn sàng làm việc ngay. Sẵn sàng làm việc có nghĩa là, có một cơ hội việc làm thì người đó có thể và bắt tay làm việc ngay. Theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia năm 2011, người thất nghiệp bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên mà trong tuần quan sát thoả mãn đồng thời ba điều kiện (i) không làm việc, (ii) sẵn sàng làm việc, (iii) đang tìm việc làm, kể cả những người trước đó chưa bao giờ làm việc. Những người không làm việc, sẵn sàng/có nhu cầu làm việc, những hiện không tìm việc do giãn việc, thời tiết xấu, công việc thời vụ, đang chuẩn bị để bắt đầu công việc mới, hoặc các hoạt động kinh doanh sau tuần tham chiếu, bận việc gia đình, ốm đau tạm thời cũng được phân loại là người thất nghiệp.
Thiếu việc làm: ILO đã đưa ra định nghĩa chung về thiếu việc làm như sau: Thiếu việc làm là sự chênh lệch giữa khối lượng công việc được thực hiện bởi một lao động có việc làm và khối lượng công việc bình thường có thể làm được và muốn làm. Để có thể đo lường được, ILO đã làm cho định nghĩa này cụ thể hơn bằng cách chia “thiếu việc làm” thành hai nhóm chính: thiếu việc làm hữu hình, khi người đó không tự nguyện làm ít thời gian hơn bình thường và thiếu việc làm vô hình, khi người đó làm đủ thời gian nhưng công việc không phù hợp vì thu nhập quá thấp hoặc công việc không đòi hỏi hết khả năng chuyên môn của người lao động. Theo ILO, thiếu việc làm phản ánh mức độ sử dụng thấp năng lực sản xuất của dân số có việc làm, kể cả mức độ sử dụng thấp nẩy sinh từ một hệ thống kinh tế yếu kém. Sử dụng thấp có liên quan tới tình trạng việc làm trong đó người lao động muốn và sẵn sàng tham gia.
* Ý nghĩa của chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm: Thất nghiệp và thiếu việc làm là vấn đề kinh tế và xã hội của hầu hết các nước trên thế giới. Đến nay, vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm đang được nhiều đối tượng quan tâm, nhất là việc thất nghiệp ở khu vực thành thị và thiếu việc làm ở khu vực nông thôn. Các chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm được quan tâm vì một số lý do chính sau đây: Thứ nhất, các chỉ tiêu về thất nghiệp và thiếu việc làm phản ánh mức độ phát triển của nền kinh tế. Thông qua việc đo lường chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm theo từng thời kỳ, có thể tính được quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế.
Thứ hai, các chỉ tiêu này phản ánh mức độ thoả dụng lao động của nền kinh tế thông qua chỉ tiêu thất nghiệp và thiếu việc làm được phân tổ theo thời gian thất nghiệp, loại thất nghiệp và mức độ thiếu việc làm. Đồng thời các chỉ tiêu này cũng phản ánh năng suất lao động và phúc lợi xã hội của người lao động. 10 Thứ ba, các chỉ tiêu này phản ánh mức độ bất bình đẳng giới.