CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BIỆT THỰ PHÁP 1. Khái quát về kiến trúc Pháp tại Việt Nam 1. Các giai đoạn phát triển của kiến trúc Pháp tại Việt Nam Lịch sử kiến trúc Pháp tại Việt Nam đã phát triển qua 3 giai đoạn: + Thời kỳ đầu từ 1860 đến 1880 là thời kỳ kiến trúc hàng hải và quân sự. Thời kỳ này, chỉ có những kỹ sư quân sự mới được thiết kế đồ án xây dựng với những kinh nghiệm từ Algeria.
+ Cho đến trước năm 1900 Kiến trúc của Hà Nôị và môt số tỉnh lị (Sài Gòn; Đà Lạt; Vũng Tàu; Nam Định; Quy Nhơn…) vẫn là Kiến trúc nhập khẩu từ ngoài vào. Giai đoạn đầu của thời kỳ này là Kiến trúc thực dân , lấy mẫu của người Anh và một số nước thuộc địa. Kiến trúc chủ yếu là mái vòng, lắp ghép đơn giản. Giai đoạn sau đã ổn định hơn, Kiến trúc nhập khẩu từ chính quốc, mang phong cách Tân cổ điển của Pháp.
Những công trình điển hình của Kiến trúc này là: công trình cho quân đội, công thự chính quyền, nhà công vụ, hãng buôn, kinh doanh xây rất đa dạng. Phong cách Hy Lạp, La Mã cổ đại, cổ điển châu Âu đua chen với nhiều kiểu dáng, nổi bật là hệ thống cột. Barốc, Toscan, Yonich,Corinthian, Roman, Gothic. Nổi lên là Nhà thờ Lớn, Nhà hát Lớn, Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch), Phủ Thống sứ (nay là Bộ LĐ-TB&XH ).
Tường dày vững chắc, hành lang rộng, vòm cuốn nhọn hoặc bán nguyệt, mái Mansard cao, dốc đứng… thể hiện vẻ đẹp trang nghiêm và bền vững. Tiếp đó trào lưu Beaux Arts và Art deco, lúc đó đang lan tỏa ở châu Âu, cũng tạo cho Hà Nội bộ mặt mới mẻ (hiện nay, dấu vết kiến trúc này còn nhiều ở phố Tràng Tiền, một số biệt thự đường Lý Thường Kiệt). Đáng chú ý nhất là nhà Ngân hàng Đông Dương (nay là Ngân hàng Quốc gia) bề thế, đĩnh đạc, hoành tráng nhưng không sa đà vào hệ thức chi tiết rườm rà cổ điển. 9 Cũng trong giai đoạn từ 1880 đến 1920, các kiến trúc sư được đào tạo từ trường Mỹ Thuật Pari và tốt nghiệp trường cao đẳng nghệ thuật Đông Dương.
Từ năm 1900-1920 chủ yếu là phát triển nhà ở. Vẫn là phong cách Kiến trúc Tân cổ điển nhưng bắt đầu mang tính chất địa phương của Pháp. Điển hình là Kiến trúc của 3 vùng Bắc, Trung, Nam nước Pháp.Đầu những năm 1920, kiến trúc mang phong cách Pháp được thay đổi để phù hợp với khí hậu ở Việt Nam vốn khác biệt hoàn toàn với khí hậu của nước Pháp. Các kiến trúc sư người Pháp cùng với thế hệ kiến trúc sư đẩu tiên của Việt Nam với xu hướng tìm về bản sắc dân tộc, khai thác những tinh hoa truyền thống, đúc kết giữa kiến trúc bản địa với kiến trúc Pháp thuộc để làm nên nét văn hóa tiêu biểu của nền kiến trúc Đông Dương.
Cải tiến các kiến trúc Pháp theo hướng dân tộc hoá, họ đưa các chi tiết mái ngói, mái bát giác, mái hiên, ô văng, cửa tò vò. tạo nên một nét kiến trúc bình dị, gần gũi với người dân bản địa (như bộ ngoại giao, trường đại học tổng hợp hay bảo tàng lịch sử).Hầu hết những công trình lớn, tiêu biểu của giai đoạn kiến trúc này là của tác giả người Pháp. Trong thời kỳ này các kiểu kiến trúc từ nhiều, vùng miền nước Pháp được các kiến trúc sư Việt Nam vận dụng, thay đổi biến thành những kiến trúc mang đậm phong cách địa phương. + Từ năm 1920-1940: Là loại Kiên trúc kết hợp văn hoá phương Đông và Tây gọi là “phong cách Đông Dương” là một loại kiến trúc mới do Kiên trúc sư Pháp sáng tác.
Người có công nhất trong việc sáng lập ra phong cách kiến trúc này là Ernest Hébrard, giáo sư của trường Mỹ thuật Đông Dương, một viên chức cao cấp được chính phủ Pháp đưa sang để phụ trách công việc quy hoạch và kiến trúc của ba nước Đông Dương. Ông là kiến trúc sư nổi tiếng đã có giải thưởng Prix de Rome. Ông gọi nó là “phong cách kiến trúc Đông Dương” (style indochinois). Thực chất đây là một phong cách chiết trung Âu – Á, trong đó không chỉ có chi tiết kiến trúc của ba nước Đông Dương (Ví dụ qua hệ thống mái, hệ thống colsole, các chi tiết 10 trang trí.Đây được gọi là loại hình Kiến trúc Đông dương, dựa trên cơ sở tổ chức măt bằng hoàn toàn của phương Tây , mặt đứng hay hình khối có dùng các chi tiết phương Đông như của Trung hoa, Thái lan, Lào, Campuchia,Viêt Nam).
Hébrard sử dụng “phong cách kiến trúc Đông Dương” rất sáng tạo và đã để lại những công trình rất có giá trị nghệ thuật. Bảo tàng Louis Finot nay là bảo tàng Lịch sử là một trong những công trình như vậy. Nhà Công Tử Bạc Liêu, Trụ sở Thư viện Bạc Liêu. + Từ năm 1920-1940: Là loại Kiên trúc kết hợp văn hoá phương Đông và Tây gọi là “phong cách Đông Dương” là một loại kiến trúc mới do Kiên trúc sư Pháp sáng tác.
Người có công nhất trong việc sáng lập ra phong cách kiến trúc này là Ernest Hébrard, giáo sư của trường Mỹ thuật Đông Dương, một viên chức cao cấp được chính phủ Pháp đưa sang để phụ trách công việc quy hoạch và kiến trúc của ba nước Đông Dương. Ông là kiến trúc sư nổi tiếng đã có giải thưởng Prix de Rome. Ông gọi nó là “phong cách kiến trúc Đông Dương” (style indochinois). Thực chất đây là một phong cách chiết trung Âu – Á, trong đó không chỉ có chi tiết kiến trúc của ba nước Đông Dương (Ví dụ qua hệ thống mái, hệ thống colsole, các chi tiết trang trí.Đây được gọi là loại hình Kiến trúc Đông dương, dựa trên cơ sở tổ chức măt bằng hoàn toàn của phương Tây , mặt đứng hay hình khối có dùng các chi tiết phương Đông như của Trung hoa, Thái lan, Lào, Campuchia,Viêt Nam).
Hébrard sử dụng “phong cách kiến trúc Đông Dương” rất sáng tạo và đã để lại những công trình rất có giá trị nghệ thuật. Bảo tàng Louis Finot nay là bảo tàng Lịch sử là một trong những công trình như vậy. Nhà Công Tử Bạc Liêu, Trụ sở Thư viện Bạc Liêu. Nhiều Kiến trúc sư Pháp sau một thời gian thâm nhập Việt Nam đã khai thác văn hóa bản địa, sáng tạo phong cách kiến trúc Đông Dương, đậm đà nhiều nét Á Đông.
Mái dốc, có đao, có kè, có bảy, mảng trang trí chữ triện, nhiều mái ngói nhỏ 11 Hình 1: Bảo tàng Lịch sử Hình 2: Biệt thự số 4 Lý Nam Đế Hình 3: Lan can decor nhẹ nhàng, hệ thống thông gió mái thấp 12 lô xô liên kết với nhau. Phong cách này có thể thấy ở trụ sở Bảo tàng Lịch sử (Hình 1), Biệt thự số 4 Lý Nam Đế(Hình 2), Lan can decor nhẹ nhàng (Hình 3) Có thể nói có thời kỳ Pháp thuộc mới có kiến trúc Đông Dương nở rộ. Tuy không đẹp lộng lẫy nguy nga như các công trình kiến trúc kiểu Pháp, nhưng các công trình kiến trúc Đông Dương vẫn luôn được mọi thế hệ kiến trúc sư Việt Nam tự hào và tôn vinh giai đoạn hoàng kim nhất của lịch sử kiến trúc 1. Xu hướng phong cách kiến trúc Pháp tại Việt Nam Phong cách kiến trúc Tiền thực dân Phong cách kiến trúc Tiền thực dân ở Hà Nội bắt đầu hình thành từ chính khu Nhượng địa với những ngôi nhà làm việc, nhà ở cho sĩ quan và binh lính Pháp.
Với mong muốn có được những không gian phù hợp với chức năng cần thiết nhưng tránh được cái nóng oi ả mùa hè, các sĩ quan công binh Pháp đã nghĩ ra một hình thức kiến trúc nhiệt đới thô sơ với các hành lang rộng bao lấy không gian chính. Sau khi chiếm được thành Hà Nội và biến nó thành Sở chỉ huy quân đội Pháp, các sĩ quan công binh cũng xây dựng một loạt công trình trong thành nội cũng như trên trục đường nối khu nhượng địa với Hoàng Thành cũ (nay tuyến phố Tràng Tiền - Tràng Thi - Điện Biên Phủ) và khu vực xung quanh hồ Hoàn Kiếm theo phong cách Tiền thực dân. Các công trình kiến trúc phong cách Tiền thực dân thường có mặt bằng hình chữ nhật đơn giản có hành lang rộng chạy xung quanh. Nhà thường có hai tầng, sàn tầng hai dùng dầm đỡ thép hình cuốn gạch ở trên.Mái dốc lợp ngói hoặc tôn.Tường chắn mái xây gạch dùng để trang trí mặt tiền có một vài hình thức tranh trí đơn giản như hàng con tiện hoặc đắp xi măng hình hoa lá.Hành lanh quanh nhà được tạo ra hình thức cuốn vòm hình cung hoặc bán cầu có khoá vòm.
Một số công trình tiêu biểu: Bảo tàng Lịch sử Quân sự (Hình 4), Bộ ngoại giao (Hình 5), Trường Đại HọcTổng Hợp (Hình 6) 13 Hình 4: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Hình 5: Bộ ngoại giao Hình 6:Trường Đại Học Tổng Hợp 14 Đặc điểm nhận dạng: Nhà 1-3 tầng, mặt bằng hình chữ nhật, mái dốc lợp ngói hoặc tôn, có hành lang bao quanh tạo ra hình thức cuốn vòm liên tục. Phong cách kiến trúc Tân Cổ điển Sau khi cơ bản chinh phục được toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, người Pháp đã tiến hành một công cuộc xây dựng lớn ở Hà Nội nhằm biến nó thành thủ phủ toàn khu vực Đông Dương. Những công thự lớn tiêu biểu cho chính quyền thực dân như Phủ Toàn quyền, Dinh Thống Sứ, Toà án… được xây dựng.Để biểu đạt cho sự uy nghi của chính quyền mới thì không gì bằng việc sử dụng các hình thức kiến trúc Cổ điển. Sau này, phong cách Tân-Cổ điển còn ảnh hưởng sang các công trình lớn về kinh tế-văn hoá ở Hà Nội như ga Hàng Cỏ, trụ sở Công ty hoả xa Đông Dương- Vân Nam, Nhà hát Thành phố, Viện Radium Đông Dương… và nhiều biệt thự dành cho người Pháp ở Hà Nội.
Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển ở Hà Nội thời kỳ này không còn là Tân-Cổ điển Pháp thuần tuý nữa mà mang nhiều màu sắc của chủ nghĩa Triết chung. Mặc dù vẫn sử dụng bố cục đối xứng nghiêm ngặt, các cấu trúc hình học và tỷ lệ vẫn được tuân thủ, các thức cổ điển vẫn mang tính áp đảo, song ở nhiều công trình các chi tiết của kiến trúc Phục hưng, Baroque cũng được sử dụng. Phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển là phong cách kiến trúc áp đảo đối với các công trình công cộng lớn ở Hà Nội thời kỳ Pháp thuộc và cũng là phong cách mang dấu ấn mạnh mẽ nhất của kiến trúc thời kỳ này. Ảnh hưởng của nó thật đáng buồn, là còn đến tận những công trình kiến trúc công cộng mới xây dựng cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI ở Hà Nội.