CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIEN CƠ SỞ HA TANG ĐÔ THỊ 1. Khái quát chung về cơ sở hạ tầng. Một số khái niệm 1.Khái niệm về cơ sở hạ tầng Theo quy định của Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD vào tháng 4 năm 2008 khái niệm cơ sở hạ tang là: “thuật ngữ chung dé chỉ các bộ phận cấu trúc và là nền tảng của sự phát triển kinh tế. Về hình thức, cơ sở hạ tầng là tài sản hữu hình, bao gồm đường, cầu, thủy lợi, công trình công cộng, công trình hạ tầng kỹ thuật, lao động tri thức.
Trên cơ sở sẵn có, các hoạt động kinh tê, văn hóa, xã hội luôn được duy trì, bảo dưỡng và phát trién. Trong kinh tế học, cơ sở hạ tầng là hàng hoá công cộng. Những mặt hàng đó phục vụ lợi ích của toàn xã hội. Về đầu tư, cơ sở hạ tầng là kết quả, là sản phẩm của quá trình đầu tư được tích lũy qua nhiều thé hệ.
Nó được coi là một bộ phận quan trọng, tài nguyên quốc gia, được sử dụng dé đáp ứng mọi yêu cầu và mục tiêu phát triển về mọi mặt của đât nước. Từ đó, tựu chung lại có thé hiểu như sau: Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những điều kiện về vật chất, kỹ thuật, thiết chế xã hội. được trang bị các yếu tố vật chất phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống con người. Cơ sở hạ tang vừa có các yếu tố vật chất vừa phi vật chất và nó cũng là sản phẩm của quá trình đầu tư để làm nên tảng cho sự phát triên của toàn xã hội”.
Khái niệm về CSHT đô thị CSHTDT là “toàn bộ các công trình giao thông, bưu chính viễn thông, dịch vụ xã hội như đường bộ, kênh mương, đường ống dẫn nước, cấp thoát nước, sân bay, nha ga, 6 tô, cảng sông, cảng biển, cơ sở năng lượng, điện lưới, đường ống dẫn khí đốt tự nhiên, đường ống dẫn xăng, kho tàng, giao thông vận tải, giáo dục phô thông và chuyên nghiệp, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, lưu trú du lịch, vui chơi giải trí, chat thải môi trường đô thi. 11 Tóm lại, cơ sở hạ tầng đô thị là “tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng liên quan được sử dụng dé phục vu các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị”. Phân loại cơ sở hạ tang đô thị Theo quy định của Quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD vào năm 2008 CSHTĐT được phân lại như sau: Theo trình độ phát triển: “Cơ sở hạ tầng đô thị phát triển cao; cơ sở hạ tầng đô thị phát triển trung bình; cơ sở hạ tầng đô thị phát triển thấp”. Theo quy mô của đô thị: “Cơ sở hạ tầng siêu đô thị; cơ sở hạ tầng đô thị cực lớn; cơ sở hạ tầng đô thị lớn; cơ sở hạ tầng đô thị trung bình; cơ sở hạ tầng đô thị nhỏ”.
Theo tính chất ngành cơ bản: CSHTKT: “Loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng cho sản xuất và sinh hoạt (điện, than, dầu khí), giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, vận tải biển, sông ngòi, hàng không, đường ống), bưu chính viễn thông, thủy lợi. Hạ tầng kỹ thuật công nghệ là một bộ phận quan trọng của sản xuất dịch vụ nông, lâm, ngư nghiệp, có vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, ồn định và bền vững, là động lực thúc đây phát triên và tạo điêu kiện nâng cao đời sông của cư dân đô thị”. CSHTXH: “được xếp vào nhóm này bao gồm nhà ở, cơ sở khoa học, trường học, bệnh viện, cơ sở văn hóa và thể thao,. cũng như các địa điểm và trang thiết bị đồng bộ với chúng.
Đây là điều kiện cần thiết để phục vụ và nâng cao mức sông của cộng đồng dân cư đô thị, nuôi dưỡng và phát triên nguồn nhân lực phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Do đó, hạ tầng xã hội là tập hợp các bộ phận mang tính chất dịch vụ xã hội, sản phẩm do chúng tạo ra được thê hiện dưới dạng dịch vụ, thường có tính chất công cộng, liên quan đến sự phát triển của thé chat và tinh thần con người”. Vai trò của cơ sở hạ tang đô thị Các đô thị là điểm tập trung đông dân cư, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng đồng bộ tương ứng. Vì vậy hạ tầng đô thị có vai trò rất quan trọng đối với mỗi đô thị.
Sự phát triển của lĩnh vực CSHTĐT ảnh hưởng trực tiêp đên sự phát triên của sản xuât, cung câp dịch vụ xã hội và nâng cao hiệu 12 quả cua chúng. Các loại hình mới vê giao thông và thông tin liên lạc mới không chỉ xuât hiện va phát trién trong phạm vi moi quôc gia, mà còn xuât hiện va phat triên trên phạm vi quôc tê với xu thê toàn câu hóa. Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải phát biểu tại diễn đàn đối thoại chính sách cao cấp thuộc khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh hợp tác tiểu ving Mekong mở rộng lần thứ 6 vào năm 2018: “Sự phát triển đồng thời của cơ sở hạ tầng đô thị hiện đại sẽ thúc đây tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế, giúp giải quyết các vấn đề xã hội. Ngược lại, hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển là trở ngại chính cho sự phát triển.
Ở nhiều nước đang phát triển hiện nay, cơ sở hạ tầng còn thiếu và yếu đã dẫn đến khó khăn trong việc luân chuyển nguồn lực va hấp thụ vốn đầu tư, trực tiếp cản trở tăng trưởng kinh tế. Trong thế giới ngày nay, những quốc gia phát triển cũng là những quốc gia có hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại. Đồng thời, hầu hết các nước đang phát triển có hệ thống cơ sở hạ tầng kém phát triển. Vì vậy, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là ưu tiên của nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, chính phủ đã đầu tư rất nhiều tiền vào xây dựng cơ sở hạ tầng trong những năm qua. Khoảng 9-10% GDP được đầu tư vào giao thông, năng lượng, viễn thông, nước và vệ sinh môi trường hàng năm. Phát triển cơ sé hạ tầng đô thị 1. Khái niệm về phát triển cơ sở hạ tầng đô thị Phát triển CSHTĐT là quá trình hình thành, xây dựng các dịch vụ nên tảng cơ bản như: hạ tầng giao thông, hạ tầng thủy lợi, hạ tầng thương mại, hạ tầng y tế, hạ tầng giáo dục, hạ tầng các khu công nghiệp,.nhằm thúc đây tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Việc phát triển hệ thống CSHTĐT dựa trên điều kiện tự nhiên và kinh tế của các vùng khác nhau. Nhân tô ảnh hưởng đến phát triển cơ sở hạ tầng đô thị 1. Nhân tổ về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. Ảnh hưởng của vị trí địa lý: Đô thị là một hệ thống rộng lớn mang tính mở cửa, bằng cách trao đổi năng lượng với thế giới bên ngoài, thành phố mới có thê duy trì sự tồn tại và phát triển của chính mình.
Vì vậy, vi trí của đô thị dong một vai trò rất quan trọng. Đặc biệt là hệ thong giao thông vận tải được coi là nền móng cơ bản dé đô thị có thé phát triển và trao đôi năng lượng với bên ngoài. Ví dụ một số thành phố ở Việt Nam 13 như Đà Nẵng, Nha Trang, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hồ Chí Minh hay Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu và các đô thị khác của Trung Quốc đều nằm ở thế sông đồ ra biển, ở vị trí giao thông đường bộ và đường sông, đường biển và đường sắt rất thuận lợi cho việc phát triển CSHTĐT. Các vùng kinh tế của các thành phố lớn, vừa và nhỏ sẽ giúp nhau hỗ trợ phát triển.
Các đô thị quy mô vừa và nhỏ sẽ trở thành đô thị vệ tinh của các đô thi lớn. Hỗ trợ cho sự hoạt động của các thành phố lớn với các đơn vị kinh tế trong khu vực. Chính vì vậy, vị trí địa lý kinh tế có lợi cho một đô thị sẽ rất nhanh dẫn đến sự hưng thịnh và phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị đó. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên: Dat đai được coi như là yếu tô quyết định sự phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
Mỗi vùng thì đất đai lại có đặc điểm, cấu tạo khác nhau. Điều này ảnh hưởng lớn đên việc xây dựng các dự án, công trình. Tài nguyên đât đai có tác động xâu đên sự phát triên cơ sở hạ tâng vì đât đai dùng đê xây dựng cơ sở hạ tâng có thê bị hạn chê bởi núi cao, sông suôi, ao hô xung quanh hoặc chịu sự hạn chê cua tài nguyên phong cảnh, ruộng nương, các di tích văn hóa mang tính lịch sử. Tài nguyên nước, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khoáng sản cũng có vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến CSHTĐT.
Nó đóng vai trò là các yếu tố đầu vào cho sự phát triên cơ sở hạ tâng. Ngoài ra, các hiện tượng lũ lụt, lôc xoáy, gió bão, động đât, mưa đá,. cũng có ảnh hưởng cực kì quan trọng tới sự tôn tại và phát triên của hạ tâng, nó có thê phá vỡ, làm hư hỏng và bào mòn các hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Vấn dé về dân số.
Hiện nay các đô thị có hiện tượng quá tải vé dân sô vi tỷ lệ người dân di cư từ các vùng nông thôn đên các đô thị lớn ngày càng nhiêu và khó kiêm soát. Nguyên nhân là do tại các đô thị lớn có nhiêu việc làm, mức thu nhập cao hơn, lĩnh vực nghỉ ngơi, giải trí thì phong phú, hiện đại. Dân số gia tăng gây ra sự quá tải đến các CSHTĐT từ hệ thông giao thông, y tê, giao dục, điện nước,. 14 - Giao thông đô thị phát triển và quy hoạch không kịp với tiến độ tăng dân số dẫn đến ách tắc giao thông nghiêm trọng tại các đô thị do diện tích đường còn quá nhỏ so với lượng phương tiện ổi lại của người dân.
- Dân số tăng dẫn đến nhu cầu sử dụng điện nước cũng tăng theo gây áp lực lên hệ thông cung câp nước nước sạch và điện lưới. -Hệ thống cống thoát nước, xử lý nước thai cũng quá tải vì lượng nước thải sinh hoạt, sản xuất khá lớn. Khi hệ thống thoát nước không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân sẽ dẫn hiện tượng người xả thải ra sông suôi, ao hô.