chương 1 Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, nghiên cứu này sẽ tiến hành phân tích vấn đề lãng phí trong xây dựng hiện tại ở TPHCM, tìm hiểu, phân tích và tổng hợp các lý thuyết về nguyên lý sản xuất tinh gọn, khái niệm và phân loại các yếu tố lãng phí trong xây dựng và tìm hiểu khả năng cải tiến năng suất lao động khi hạn chế hoặc giảm thiểu yếu tố lãng phí bởi các nguyên lý của sản xuất tinh gọn trong chương tiếp theo. CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ SẢN XUẤT TINH GỌN VÀ LÃNG PHÍ 2.1 Vấn đề lãng phí trong xây dựng hiện tại và xu thế cải tiến 2.1 Giới thiệu Ngành xây dựng từ lâu đã có nhiều vấn đề khó khăn về quản lý hoặc kiểm soát kém trong nhiều khía cạnh, chẳng hạn như chất lượng, an toàn, năng suất lao động, ngân sách kế hoạch, tiến độ thực hiện và sự thõa mãn của khách hàng. Theo Adrain (1987) [1] , ngành công nghiệp xây dựng ở Mỹ được xếp hạng là ngành công nghiệp tồi tệ nhất trong việc cải tiến năng suất lao động trong những năm 1970 đến 1986. Năng suất lao động của ngành công nghiệp xây dựng ở Mỹ luôn luôn thực hiện thấp hơn mức trung bình năng suất thực tế hàng năm trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến 1986 được báo cáo bởi Bộ thương mại Mỹ.
Ngoài ra, Koskela (1992) [2] đã thực hiện nghiên cứu để miêu tả các loại lãng phí hoặc giá trị không gia tăng ở Thụy Điển và Mỹ. Từ những nghiên cứu này cho thấy rằng quy trình xây dựng có những loại giá trị không mang lại giá trị gia tăng dẫn đến năng suất lao động thấp được trình bày theo bảng 2.1 dưới đây Lãng phí Chi phí Nước Chi phí chất lượng (không phù hợp) 12% tổng chi phí dự án Mỹ Chi phí chất lượng (trong sử dụng) 4% tổng chi phí dự án Thụy Điển HVTH: Hà Duy Khánh 12 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Phạm Hồng Luân Thiếu tính xây dựng được 6-10% tổng chi phí dự án Mỹ Quản lý vật liệu kém 10-12% tổng chi phí dự án Mỹ Vượt quá vật liệu trên công truờng trung bình 10% Thụy Điển Thời gian làm việc cho các công tác không mang lại giá trị gia tăng khoảng 2/3 tổng thời gian Mỹ Thiếu an toàn lao động 6% tổng chi phí dự án Mỹ Bảng 2.1: Lãng phí xây dựng được sưu tầm bởi Koskela, 1992 Ngoài ra, những nghiên cứu trước đây ở Anh, Mỹ và một vài nước phát triển khác đều có chung một đặc điểm trong xây dựng là 30% công việc làm lại, chỉ 40- 60% hiệu suất lao động, 3-6% chi phí tổng cộng cho tai nạn lao động và tối thiểu 10% lãng phí vật liệu bởi DETR năm 1998. Chi chí cho công việc làm lại trong dự án xây dựng ở Australia được báo cáo là 35% chi phí toàn bộ dự án và chiếm 50% phần vượt chi phí dự án.
Thực tế, công việc làm lại là một trong những nhân tố cơ bản dẫn đến năng suất lao động thấp đối với ngành công nghiệp xây dựng tại Australia (Love et al, 2003). Nói chung, một mức độ cao về lãng phí hoặc giá trị không gia tăng được thừa nhận là đang tồn tại trong xây dựng và rất khó khăn để đo lường trực tiếp lãng phí. Một vài nghiên cứu trước đây từ nhiều nước khác nhau xác nhận rằng lãng phí trong xây dựng chiếm phần trăm tương đối lớn trong chi phí sản phẩm và đã làm suy yếu sự thực hiện và năng suất trong xây dựng (Formosa et al, 2002) [18] .2 Vấn đề lãng phí trong xây dựng Vấn đề thường xuyên của xây dựng được biết đến nhiều nhất: năng suất lao động thấp, an toàn lao đông kém, điều kiện làm việc kém và chất lượng không đạt (Koskela 1993) [4]. Tuy nhiên, trong nhiều thời gian qua những vấn đề chỉ trích này đều không được chú ý bởi vì những cá nhân trong ngành xây dựng mà thường chấp nhận thực tế lãng phí hơn là cố gắng tìm ra giải pháp để hạn chế hoặc loại trừ lãng phí.
Theo (Koskela 1992) [2] , sự không đủ khả năng để cải tiến năng suất lao động của các dự án xây dựng là điều nhận thấy rõ nhất của những người trong ngành do những nguyên nhân riêng biệt như đặc thù về điều kiện tự nhiên, sản phẩm công trường và nhiều tổ chức tạm thời. HVTH: Hà Duy Khánh 13 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Phạm Hồng Luân Khác với những hoạt động sản xuất được kiểm soát theo một quy trình khá thông thường, những hoạt động xây dựng được xem là có nhiều sự biến đổi và nhân tố lãng phí thông qua việc quản lý luồng thông tin luồng tài nguyên. Những biến đổi và lãng phí chung trong hoạt động xây dựng phần chính là do những công việc ngoài trời, cách tổ chức tạm thời và phức tạp, nhu cầu nhân lực cao, thiết bị di chuyển nhiều.
Quả thật, những điều lạ thường và biến đổi này sẽ hạn chế hiệu suất của quy trình xây dựng nhưng đồng thời chính những điều lạ thường và biến đổi này sẽ giúp khắc phục được những thiếu sót trong thiết kế và quy trình thực hiện. Từ đó, năng suất lao động dần dần sẽ điều chỉnh và cải thiện đáng kể (Alarcon, 1994) [5]. Cho nên, việc tổ chức, kế hoạch, phân bổ và kiểm soát tài nguyên, quy trình và kỹ thuật là những thứ xác định chính cho năng suất lao động có thể đạt được.3 Vai trò của sản xuất trong đổi mới xây dựng Trong suốt nhiều năm, sản xuất luôn là điểm tựa và là yếu tố hàng đầu cho việc đổi mới trong ngành xây dựng. Đã có một vài nỗ lực trong việc chuyển giao công nghệ và giải pháp sản xuất tiên tiến từ trong quy trình sản xuất sang xây dựng để giảm thiểu các vấn đề khó khăn trong xây dựng.
Hầu hết các nỗ lực này chủ yếu là các quy trình và công nghệ mới từ thực tế sản xuất như công nghiệp hóa, sản xuất lắp ghép, module hóa cấu kiện, ứng dụng các kỹ thuật vi tính và tự động hóa xây dựng. Tuy nhiên, không có một sự cải tiến đáng kể nào trong xây dựng từ khi bắt đầu áp dụng các quy trình và giải pháp của sản xuất công nghiệp cho sản xuất xây dựng Koskela (2000) [32]. Nguyên nhân chính đằng sau những thất bại của nhiều nỗ lực cải tiến trên là do sự khác biệt cơ bản giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất xây dựng. Một so sánh giữa sản xuất xây dựng với sản xuất công nghiệp thể hiện những nét khác biệt chủ yếu trong các giai đoạn tương ứng được thể hiện trong Bảng 2.2 dưới đây Sản xuất công nghiệp Sản xuất xây dựng Thực hiện • Kế hoạch thực hiện là rất chi • Kế hoạch tổng thể được hình quy trình tiết dựa vào nhiều khâu khác thành một cách logic nhưng sản xuất nhau.
Trình tự công việc có thể thay đổi không có tính thay đổi khi thực hiện • Mỗi vị trí trong quy trình đòi • Kỹ năng nghề được áp dụng HVTH: Hà Duy Khánh 14 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS. Phạm Hồng Luân hỏi một kỹ năng nhất định trong một loạt các vị trí khác nhau Sản phẩm • Tạo ra một số lượng hữu hạn • Tạo ra chỉ một sản phẩm sản xuất ra các đối tượng sản xuất ra Chiến lược • “Học” sai sót ngay từ đợt sản • “Học” sai sót trong khi thực cải tiến quy phẩm đầu tiên hiện kế hoạch và sau sản trình phẩm đầu tiên Bảng 2.2: So sánh giữa khái niệm sản xuất và xây dựng Đây là một xu hướng phát triển dựa vào triết lý sản xuất mới có nguồn gốc từ thực tế sản xuất được nắm bắt một cách chậm chạp trên cả lý thuyết và thực tế trong ngành xây dựng từ những năm cuối thập niên 1980. Trong ba thập niên gần đây là sự cải tiến trong sản xuất đã phát triển mạnh mẽ hơn và đã đạt được nhhững thành tựu nhất định. Bây giờ, việc tinh gọn trong công nghiệp sản xuất được áp dụng cho nhiều thứ như không gian sản xuất, nhân lực dư thừa, các công cụ, thiết bị và thời gian sản xuất sản phẩm.
Nói chung, những cải tiến đáng kể trong tất các các khâu, các quy trình được tiến hành một cách đồng thời trong công nghiệp sản xuất. Tất cả những cải tiến này không phải là sản phẩm của một sự thay đổi bên trong và bên ngoài của một công nghệ mà là kết quả của việc ứng dụng một triết lý sản xuất mới dẫn dắt đến khái niệm “sản xuất tinh gọn” (Lean Production). Những xu thế phát triển mới của ngành xây dựng tập trung vào những nguyên lý và lý thuyết cơ bản liên quan đến quản lý sản xuất và bây giờ, một yêu cầu thực tế giống nhau là đưa ra một chiến lược cải tiến cho công nghiệp xây dựng đặc biệt trong chiến lược hạn chế và loại trừ những lãng phí. Những nhà học thuật đầu tiên phát triển triết lý sản xuất mới trong công nghiệp xây dựng bao gồm Lauri Koskela và Luis F Alarcón.
Koskela (1992) [2] xác nhận tính cấp thiết của việc chuyển đổi sang một mô hình quản lý mới trong xây dựng để hạn chế yếu tố lãng phí. Alarcón (1995) [7] ngoài việc chỉ ra rằng cơ hội cải tiến sự thực hiện/ thực thi các yêu cầu đã đặt ra có thể tập trung vào chiến lược giảm thiểu/ghi nhận lãng phí cũng như chiến lược các cải thiện giá trị gia tăng cho sản phẩm. Theo một cách khác, việc xác định và đo lường lãng phí sẽ là một cách hiệu quả để đánh giá sự thực hiện của bất kỳ hệ thống sản xuất nào bởi vì nó sẽ chỉ ra những nơi cần phải cải tiến và những nguyên nhân chính của việc không đạt được hiệu quả mong muốn. HVTH: Hà Duy Khánh 15 Luận văn Thạc sỹ GVHD: TS.
Phạm Hồng Luân 2.4 Tính cấp thiết của triết lý sản xuất mới trong sản xuất Thực tế và triết lý sản xuất sản phẩm truyền thống từ những ngày ban đầu của công nghiệp hóa thì chưa bao giờ đi sâu hơn khái niệm quy trình sản xuất tổng thể và thường thờ ơ với khả năng cải tiến quy trình để cho luồng công việc được “trôi chảy” tốt nhất. Vào thập niên 1950, hệ thống sản xuất sản phẩm truyền thống được hình thành với những kiểu lắp ráp dây chuyền thành phẩm khi Taiichi Ohno (1912- 1990), một nhà lãnh đạo chế tạo xe hơi chuyên nghiệp của Nhật Bản, đưa ra để hình thành hệ thống sản xuất mới gọi là hệ thống sản xuất Toyota (Toyota Production System, TPS).