Chương 1. Cơ sở khoa học của quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn Thành phố Cao Bằng. Phƣơng hƣớng và một số giải pháp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn Thành phố Cao Bằng.
5 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý và quản lý nhà nước Quản lý Quản lý_là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Mỗi ngành khoa học_nghiên cứu về quản lý từ những góc độ riêng và đƣa ra định nghĩa riêng.
Nội dung thuật ngữ quản lý có nhiều cách diễn đạt khác nhau. Với ý nghĩa thông thƣờng thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức,_định hƣớng của chủ thể quản lý vào một đối tƣợng nhất định để điều chỉnh các quá trình_xã hội và hành vi của con ngƣời nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tƣợng theo mục tiêu đã định. Theo điều khiển học thì quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình,_căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tƣơng ứng để cho_hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của ngƣời quản lý nhằm đạt đƣợc mục đích. Với các khái niệm nhƣ trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý.
- Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể luôn là con ngƣời hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý bằng các công cụ với những phƣơng pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định. - Đối tƣợng quản lý: tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý.
Tuỳ theo từng loại đối tƣợng khác nhau mà ngƣời ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. 6 Luan van - Khách thể quản lý là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là các hành vi của con ngƣời các quá trình xã hội. Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc. Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trƣớc, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phƣơng pháp và_thực hiện các biện pháp tác động quản lý_khoa học phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.
Quản lý nhà nước Khi Nhà nƣớc xuất hiện thì phần lớn (phần quan trọng) các công việc của xã hội do Nhà nƣớc quản lý. QLNN là hoạt động của Nhà nƣớc trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nƣớc. Nói cách khác, QLNN là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nƣớc tới các đối tƣợng quản lý nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy tất cả các cơ quan nhà nƣớc đều làm chức năng quản lý nhà nƣớc.
- Tính chất đặc thù của quản lý nhà nƣớc là sự phổ biến toàn cộng đồng xã hội, thậm chí vƣợt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con ngƣời trong khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nƣớc thực hiện. - Nhà nƣớc vốn là hiện tƣợng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố) và đa diện (theo các chức năng), và với tƣ cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nƣớc tính hệ thống. Đối với quản lý nhà nƣớc, tính chất hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc. Chỉ có sự hiện hữu của tính chất này mới tạo cho quản lý nhà nƣớc sự hòa hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cần thiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định.
Trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội nhƣ: Đảng, Chính phủ, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân. Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nƣớc có những đặc điểm khác biệt sau: 7 Luan van - Chủ thể quản lý nhà nƣớc là các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. - Đối tƣợng của quản lý nhà nƣớc là toàn thể nhân dân (dân cƣ) sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. - Quản lý nhà nƣớc diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân.
Quản lý nhà nƣớc mang tính quyền lực Nhà nƣớc, pháp luật là phƣơng tiện, công cụ chủ yếu để quản lý nhà nƣớc nhằm duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”. Nhƣ vậy quản lý nhà nƣớc là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nàh nƣớc, sử dụng pháp luật để điều chỉnh_hành vi của con ngƣời trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Khái niệm về đô thị, quy hoạch xây dựng đô thị Đô thị Hiện có nhiều khái niệm tiếp cận về đô thị, tùy thuộc lĩnh vực và đối tƣợng nghiên cứu: Đô thị là một không gian cƣ trú của cộng đồng ngƣời sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Đô thị là nơi tập trung dân cƣ, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị là điểm tập trung dân cƣ với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nƣớc, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện [3]. Theo Luật quy hoạch đô thị “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên 8 Luan van ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.” Nhƣ vậy, đô thị là điểm dân cƣ tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nƣớc, của cả một miền đô thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện. Một đô thị hay khu đô thị là một khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con ngƣời xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Các đô thị có thể là thành phố, thị xã, hay vùng đô thị nhƣng thuật từ này thông thƣờng không mở rộng đến các khu định cƣ nông thôn nhƣ làng, xã, ấp.
Đô thị bao gồm các khu chức năng của đô thị. Các đô thị đƣợc thành lập và phát triển thêm qua quá trình đô thị hóa. Đo đạt tầm rộng của một đô thị sẽ giúp ích cho việc phân tích mật độ dân số, sự mở rộng đô thị, và biết đƣợc các số liệu về dân số nông thôn và thành thị. Không nhƣ một đô thị, một vùng đô thị không chỉ bao gồm đô thị mà còn bao gồm các thành phố vệ tinh cộng vùng đất nông thôn nằm xung quanh có liên hệ về kinh tế xã hội với thành phố đô thị cốt lõi.
Thật ra, các đô thị kết hợp và phát triển nhƣ trung tâm hoạt động kinh tế/dân số trong một vùng đô thị lớn hơn. Quy hoạch đô thị Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trƣờng sống thích hợp cho ngƣời dân sống trong đô thị, đƣợc thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị [19]. Quy hoạch xây dựng đô thị Là việc tổ chức không gian đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trƣờng sống thích hợp cho ngƣời dân sống tại đô thị, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa lợi ích quốc gia với lợi ích cộng đồng, đáp 9 Luan van ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trƣờng. Quy hoạch xây dựng đô thị đƣợc thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng bao gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh.
Trong đô thị có 2 loại quy hoạch xây dựng là quy hoạch chung xây dựng đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị [18]. Khái niệm trật tự xây dựng đô thị, quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Trật tự xây dựng đô thị Trật tự là sự sắp xếp, bố trí theo một thứ tự, một quy tắc nhất định. Do vậy có thể hiểu trật tự xây dựng đô thị là sự sắp xếp, bố trí theo một trình tự nhất định các công trình xây dựng trên địa bàn đô thị bao gồm toàn bộ các công trình trên mặt đất, dƣới lòng đất và trên không; do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép thực hiện và quản lý trong toàn bộ các khâu từ việc lập dự án, thiết kế, cấp phép xây dựng đến quản lý hoạt động thi công công trình, ban hành các tiêu chuẩn về không gian kiến trúc, xây dựng, mỹ quan đô thị,…và khai thác, sử dụng công trình sau khi đã hoàn thành. Việc thiết lập trật tự xây dựng đô thị là việc làm hết sức cần thiết, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình tồn tại và phát triển của đô thị.
Trật tự này đƣợc hình thành trên cơ sở quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết do các cơ quan chức năng lập ra, đƣợc phê duyệt và tổ chức thực hiện; đƣợc quản lý bằng các quy định của pháp luật bao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hƣớng hành vi của các chủ thể tham gia các quan hệ về xây dựng ở đô thị theo các chuẩn mực chung.