CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ĐÔ THỊ HÓA VÀ PHÁT TRIEN BEN VỮNG 1.Khái niệm đô thị hóa Đô thị hóa là là một điều phải trải qua đối với các quốc gia đang phát triển. Là việc thu hẹp đất ở nông thôn, tăng mật đô dân số; phát nhưng ngành liên quan đến công nghiệp, dịch vụ. Đó cũng là quá trình biến đổi về phân bồ lực lượng sản xuất, bố trí đân cư những vùng không phải đô thị trở thành đô thị. Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
thu hút nhiều nhân lực từ nông thôn đến sinh sống và làm việc, làm cho tỉ trọng dân cư ở các đô thị tăng nhanh. Đô thị xuất hiện làm tăng sự phát triển giao thông với các vùng nông nghiệp xung quanh và các đô thị khác. Đô thị hóa có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau: Trong tác phẩm “Đô thị Việt Nam” của Đàm Trung Phương cho răng: “Đô thị hoá là quá trình chuyền dịch hoạt động nông nghiệp phân tán sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên một số địa bàn thích hợp”. Mặt khác, cũng theo tác giả này: “Đô thị hoá cũng bao gồm quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị, tập trung ngày càng nhiều dân cư trong những vùng lãnh thé hạn ché, gọi là đô thị”.
Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Phát triển KT- XH Hà Nội, quá trình đô thị hoá được nhìn từ hai góc độ, một mặt đó là “Quá trình hình thành và phát triển các điểm dân cư được tập hợp lại và phô biến lối sống thành thị, đồng thời phát triển các hoạt động khác nhau dé phuc vu su ton tai va phat trién trong cộng đồng đó”; mặt khác “Đô thị hoá cũng là quá trình mở rộng biên giới lãnh thổ đô thị do nhu cầu công nghiệp hoá, thương mại, dịch vụ và giao lưu quốc tế - là sự tăng trưởng về không gian đô thị từ phát triển dân số và phát triển sản xuất”.Đặc điểm của quá trình đô thị hóa Ngày nay, đô thị hóa là chuyển dịch cơ cấu xã hội từ nông nghiệp — nông dân — nông thôn sang công nghiép - thi dân — đô thị được biểu hiện ở một số đặc điểm sau : Một là, đất đô thị được mở rộng dat nong nghiép mat dan. Dưới mọi hình thức thi đô thị hóa lúc nào cũng đều dẫn đến sự chuyên đổi việc sử dụng đất : Phát triển không gian đô thị và làm thu hẹp diện tích dành cho lĩnh vực nông nghiệp. Đây là kết quả của việc thi hành các chính sách của Chính phủ, nhưng chính sách này ưu tiên cho việc phát triển các công trình, các khu bất động sản, buôn bán đất đai và nhưng phần đất ở dành cho nhưng người ở vùng khác chuyên đến. Nhà nước luôn nắm quyền trong việc chuyền đổi đất nông nghiệp dé có thé có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp nhất.
Hai là, phân bố dân cư tại các khu đô thị mới, giải quyết các van đề về dân số, việc làm và làm chuyển dịch cơ cấu ngành nghề Khu đô thị mới là khu dân cư được xây dựng dành cho những người đang ở vùng nông thôn được chuyền thành thành phố, phường theo hướng đồng bộ cơ sở hạ tầng theo đô thị được xác nhập. Đòi hỏi chính quyền phải giải quyết vấn đề về dân số và duy trì chất lượng cuộc sống của người dân ở khu vực đó. Nhưng người ở nơi nay đã quen với nhưng công việc nông nghiệp không phải ai cũng đủ trình độ văn hóa dé có thể tham gia các ngành công nghiệp, dịch vụ, thương mại vì thé rất khó dé có một công việc dé duy trì cuộc sống, phải có nhưng chính sách về việc làm dé người dân có tái sản xuất duy trì cuộc sống của minh. Ba là, có sự chuyển dịch cơ cầu thành phần kinh tế.
Đô thị hóa làm giảm diện tích nông nghiệp, vậy nên tỷ trọng nông nghiệp trong tong GDP sẽ được chiếm chủ yếu bởi các ngành kinh tế liên quan đến thương mại, dịch vụ và công nghiệp. Bản thân ngành nông nghiệp cũng dần chuyền theo hướng công nghệ cao. Các hợp tác xã nông nghiệp trước đây có thé từ đó hình thành các hộ kinh doanh dịch vụ, thương mại và các làng nghề thủ công nghiệp. Bốn là, hạ tang kinh tế - xã hội phát triển.
Những công trình này phải đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và đời sống. Dam bảo hiện đại và đồng bộ kết nối với đô thị cũ trung tâm và các vùng lân cận. Việc giải quyết tốt hay không tốt nội dung này đều có tác động tới sản xuất và đời sông nhân dân. Vấn đề cơ sở hạ tầng giao thông là một vấn đề cấp thiết nhất cần giải quyết do dân sé, lao động tăng nhanh làm cho việc đi lại, vận chuyên hàng hóa, dịch vụ ngày càng lớn khiến cho cơ sở hạ tầng giao thông được sử dụng nhiều hơn bao giờ hết.
Nam là, các don vị hành chính thay đổi dé phù hợp với quá trình đô thị hóa Đô thị hóa dẫn đến sự biến động ranh giới các đơn vị hành chính Dẫn đến sự thay đôi về ranh giới vùng, dân sô, các cơ quan hành chính. Dan đên bộ máy hành chính cũng phải vận hành khác đi, vậy nên bộ máy nhà nước cũng cần thay đổi dé có thé phù hợp với lộ trình đô thị hóa 1.Đo lường của đô thị hóa Theo thông tư 34/2009/TT-BXD, quy định về cách tính các chỉ số liên quan đến tỷ lệ đô thị hóa như sau: “ Quy mô dân số toàn đô thị * Quy mô dân số toàn đô thị bao gồm dân số thường trú và dân số tạm trú đã quy đôi khu vực nội thị và khu vực ngoại thị, được tính theo công thức sau: N=Ni+No2 Trong đó: N: Dân số toàn đô thị (người). Ni: Dân số của khu vực nội thị (người); No: Dân số của khu vực ngoại thị (người); e Quy mô dân số của khu vực nội thị (N1)va của khu vực ngoại thị (N2) được xác định gồm dân số thống kê thường trú và dân số tạm trú đã quy đôi: Dân số tạm trú từ 6 tháng trở lên được tính như dân số thường trú, dưới 6 tháng quy đổi về dân số đô thị theo công thức như sau: No= (ÔN: x m) : 365 Trong do: No : Số dân tam trú quy về dân số đô thị (người); Nz: Tổng số lượt khách đến tạm trú ở khu vực nội thị và ngoại thị dưới 6 tháng (người); m: Số ngày tạm trú trung bình của một khách (ngày). e Ty lệ đô thị hoá của đô thị (T) được tính theo công thức sau: T=(ŒNn /N) x 100 Trong đó: T: Tỷ lệ đô thị hóa của đô thị (%); Nn: Tổng dân số các khu vực nội thị trong địa giới hành chính của đô thị (người); N: Dân số toàn đô thị (người).
« Mat độ dân số đô thị Mật độ dân số đô thị phản ánh mức độ tập trung dân cư của khu vực nội thị được tính theo công thức sau: D=N,/S Trong đó: D: Mật độ dân số trong khu vực nội thị (người /km2); Nj: Dân số của khu vực nội thi đã tính quy đôi (người); S: Diện tích đất xây dựng đô thị trong khu vực nội thị không bao gồm các diện tích tự nhiên như núi cao, mặt nước, không gian xanh (vùng sinh thái, khu dự trữ thiên nhiên được xếp hạng về giá trị sinh học.) và các khu vực cắm không được xây dựng (km2). Các nhân tô ảnh hưởng đến PTH Thứ nhất, các nhân tổ tự nhiên Vị trí địa lý Các nhà hoạch đinh chính sách nhận thấy rõ tam quan trọng của vị trí địa lý của Việt nam. Năm trong khu vực châu Á - Thái bình dương — khu vực có nên kinh tế đang phát triển rất nhanh trên thé giới. Việt Nam có một đường biển dài thuận lợi cho việc giao thương và một cửa ngõ phía bắc với 1 nền kinh tế đứng thứ 2 trên thé giới.
Việc có một giao thông thuận lợi sẽ là một điều kiện giúp cho các ngành công nghiệp phát triển, tạo ra được lợi thế về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển hàng không, hàng hải, du lich. Điều kiện tự nhiên Với các nước phát triển thấp như Việt Nam thì kinh tế phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Điều này đã được biểu hiện rõ trong thời kỳ Pháp thuộc, Mỹ thuộc, các đô thị chỉ sản xuất các ngành nghề thế mạnh của mình như sơ chế kẽm ( Quảng Yên), khai thác than ( Quang Ninh), Hà Nội chủ yếu là cơ khí và sản xuất rượu bia, thuốc lá,. gây ra sự phát triển không đồng đều giữa các đô thị.
Vậy nên khi kinh tế phát triển nhà nước sẽ phải có những chính sách đầu tư tạo điều kiện cho các đô thị mới thì mới có thé phát triển đồng đều được.Các nhân tổ kinh tế - xã hội Trình độ phát triển kinh tế Phát triển kinh tế ở đô thị là nói đến việc tăng trưởng công nghiệp và dịch vụ. Do lường mức độ phát triển kinh tế dựa trên: tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ trong các lĩnh vực kinh tế,. Phát triển kinh tế thể hiện lợi thế về vi trí, điều kiện tự nhiên và con người nhưng khi phát triển đến một mức nào đó thì cần có một chính sách phù hợp đề điều tiết lại nền kinh tế không thì sẽ gây ra các hiện tượng phát trién không bền vững trong tương lai Chủ trương, chính sách và năng lực quản lý Từ sau Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VII, không chỉ còn chú trọng đến phát triển kinh tế mà nhà nước còn quan đến quy hoạch và quản lý đô thị. Từ đó tạo bước đà cho các đô thị phát triển, đồng thời giúp việc đô thị hóa ở các đô thị trở nên bền vững hơn.
Trình độ cán bộ thực hiện chính sách đô thị hóa là điểm quan trọng nhất trong việc thực hiện các chính sách đô thị hóa tại đô thị, vì mọi chủ trương dù có đúng đắn đến đâu mà người thực hiện không tốt thì cũng không thé kha thi. Van hoá dân tộc Mỗi dân tộc đều có nhưng bản sắc, văn hóa và lỗi sống riêng. Cộng đồng người Việt vẫn còn nhiều thói quen của nhà nông, do quá trình đô thị hóa nên họ mới trở thành người ở thành phố. Tuy sống ở thành phố nhưng họ vẫn giữ thói quen cũ.