Chương 1 TỎNG QUAN 1. Vấn đề về đô thị, đô thị hóa và đất đai 1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa 1. Khái niệm đô thị Theo Luật quy hoạch đô thị, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đây sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phó; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị tran (Quốc hội, 2014).
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995). Như vậy, đô thị là khu vực có địa giới hành chính cụ thể, là nơi dân cư tập trung với mật độ cao, hoạt động kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng phát triển, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc day su phat triển kinh tế xã hội của khu vực đó và các khu vực lân cận. Phân loại đô thị Việc phân loại đô thị đã được tiễn hành từ thập niên 90. Khi đó Hội đồng bộ trưởng (chính phủ ngày nay) đã ban hành Quyết định số 132/HĐBT ngày 05/5/1990 về phân loại đô thị và phân cấp quản lý đô thị.
Trong đó xác định để phân loại đô thị căn cứ vào 5 yếu tô và đô thị được chia thành 5 loại (từ loại 1 đến loại 5). Đô thị loại 1 và loại 2 chủ yếu do Trung ương quản lý, đô thị loại 3 và loại 4 chủ yếu do cấp Tỉnh quản lý và đô thị loại 5 chủ yếu do cấp Huyện quản lý. Đến năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 về phân loại đô thị. Theo đó việc phân loại đô thị dựa theo 5 tiêu chí với 6 loại đô thị gồm đô thị đặc biệt và các đô thị từ loại 1 đến loại 5 (Chính phủ, 2001).
Năm 2009 Chính phủ ban hành Nghị định 42/2009/NĐ-CP về phân loại đô thị theo đó đô thị ở nước ta được chia thành 6 loại bao gồm: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại HI, đô thị loại IV và đô thị loại V (Chính phủ, 2001). Phân loại và phân cấp đô thị ở Việt Nam Lao động Mật độ dân Loại Vai trò trung Qui mô Dân phi nông số Hạ tầng cơ sở đô thị tâm chủyếu số (người) nghiệp (%) (người/km” ) Đặc As Đồng bộ, hoàn lẻ Quôc gia > 5.000 biệt chỉnh Quốc gia và Đồng bộ, cơ bản > 1.000 liên tỉnh hoàn chỉnh ¬ Đồng bộ, tiến tới II Lién tinh > 800.000 co ban hoan chinh Từng mat được ; dau tư xây dung TTinh, lién x ee. đông bộ và tiên lil tinh > 150.000 tới cơ bản hoàn chỉnh Đã hoặc đang xây IV Tỉnh > 50.000 dựng tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh Đã hoặc đang xây > 4.000 dung tiến tới đồng Vv Huyén bộ và hoàn chỉnh Nguôn: Nghị định số 42/2009/ND — CP của chính phủ Nghị định trên cũng đặt ra tiêu chuẩn phân loại đô thị áp dụng cho một số đô thị theo vùng miền. Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thê thấp hơn, nhưng tối thiêu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuân khác phải bảo đảm tối thiêu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương.
Các đô thị được xác định là đô thị đặc thù thì tiêu chuẩn về quy mô dân số và mật độ dân số có thé thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 60% tiêu chuân quy định, các tiêu chuân khác phải đạt quy định so với các loại đô thị tương đương va bao đảm phù hợp với tính chất đặc thù của mỗi đô thị. Đến năm 2016 Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQHI13 về phân loại đô thị theo đó các đô thị cũng được chia thành 06 loại như Nghị định 42/2009/NĐ-CP nhưng có sự khác nhau về tiêu chí phân loại. Năm 2022, Nghị quyết số 26/2022/UBTVQHI5 ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 15 về sửa đôi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQHI3 ngày 25 tháng 5 năm 2016 của Uy ban thường vụ Quốc hội về phân loại đô thị (Quốc hội, 2022). Việc phân loại đô thị được xét bằng phương pháp tính điểm, tổng số điểm của các tiêu chí tối đa là 100 điểm, các tiêu chí phân loại đô thị được xác định bằng các tiêu chuẩn cụ thê và được tính điểm theo khung điểm phân loại đô thị quy định tai Phụ lục 1 của Nghị quyết này.
Điểm của mỗi tiêu chí là tổng số điểm của các tiêu chuẩn của tiêu chí đó. Tổng số điểm tối đa của các tiêu chí là 100 điểm, cụ thê như sau: - Tiêu chí vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội gồm 08 tiêu chuẩn; đánh giá tối thiểu là 13,5 điểm, tối đa là 18 điểm. - Tiêu chí quy mô dân số gồm 02 tiêu chuẩn là quy mô dân số toàn đô thị và quy mô dân số khu vực nội thành, nội thị; đánh giá tối thiểu là 6,0 điểm, tối đa là 8,0 điểm. - Tiêu chí mật độ dân số gồm 02 tiêu chuẩn là mật độ dân số toàn đô thị và mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị khu vực nội thành, nội thị, thị tran; đánh giá tối thiêu là 6,0 điểm, tối da là 8,0 điểm.
- Tiêu chí tỷ lệ lao động phi nông nghiệp gồm 02 tiêu chuẩn là tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị; đánh giá tối thiểu là 4,5 điểm, tối đa là 6,0 điểm. - Tiêu chí trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị gồm 49 tiêu chuẩn; đánh giá tối thiểu là 45 điểm, tối đa là 60 điểm. Qua phân loại đô thị có thé nhận thức rõ vị trí chiến lược và vai trò của từng đô thị. Từ đó đưa ra định hướng quy hoạch và quản lý đô thị hợp lý, đồng thời tùy từng cấp đô thị mà có chính sách huy động nguồn tài chính vào phát triển đô thị thích hợp cho mỗi giai đoạn phát triển.
Khái niệm đô thị hóa và tiêu chí đánh giá đô thị hóa Đô thị hóa (Urbanization) là sự chuyền dịch dân số từ nông thôn ra thành thị, sự sụt giảm tương ứng về tỷ lệ người dân sống ở nông thôn và cách thức mà các xã hội thích ứng với sự thay đổi nay. Nó cũng có thể là tăng dân số ở khu vực thành thi thay vì nông thôn (Department of Economicand Social Affairs, 2012). Chủ yếu là quá trình mà các thị trấn và thành phố được hình thành và trở nên lớn hơn khi có nhiều người bắt đầu sống và làm việc ở các khu vực trung tâm. Đô thị hóa được phân biệt với tăng trưởng đô thị.
Đô thị hóa đề cập đến tỷ lệ tong dân số quốc gia sông ở các khu vực được phân loại là đô thị, trong khi tăng trưởng đô thị đề cập đến số lượng tuyệt đối người dân sống ở các khu vực đó. Theo Phạm Ngọc Côn, đô thị quá là quá trình song song với sự phát triển công nghiệp hóa và cách mạng khoa học công nghệ, dân số và sức lao động phân tán của nông thôn và hoạt động kinh tế phi nông nghiệp không ngừng tiến hành tụ hội trên không gian mà dan dần chuyên hóa thành yếu tổ kinh tế của đô thị (Phạm Ngọc Côn, 1999). Vì vậy, đô thị hóa bao gồm 4 mặt nội dung: Một là, dân số nông thôn tập trung lên đô thị, dân số đô thị và số lượng đô thị ngày càng gia tăng, tỷ trọng của dân số đô thị trong tổng số dân ngày càng nâng cao. Hai là, phương thức sinh hoạt, phương thức tựu nghiệp và phương thức tư duy của dân cư từng bước đô thị hóa.
Ba là, quan hệ giữa thành thị và nông thôn không ngừng biến đôi, đô thị trở thành trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa, là động lực chủ yếu của sự phát triển đi lên. Bồn là, khu vực phi đô thị dần chuyên hóa thành trang thái khu vực có tính đô thị. Theo Đàm Trung Phường, đô thị hóa là một quá trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyền dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyên đôi lỗi sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự (Đàm Trung Phường, 2005). Theo Nhiêu Hội Lâm, đô thị hóa theo nghĩa rộng phải đảm bảo 03 quá trình: một là quá trình thay đổi tính chất, trạng thái đô thị; hai là quá trình tăng vọt số lượng đô thị và ba là quá trình chất lượng đô thị không ngừng diễn biến, thay đôi và nâng cao (Nhiêu Hội Lâm, 2004).
Theo Nguyễn Minh Tuệ, đô thị hóa hiểu theo nghĩa hẹp là sự gia tăng dân số và mở rộng lãnh thổ đô thị đi kèm với đó là những thay đổi về kinh tế, việc làm. Hiểu theo nghĩa rộng là quá trình nâng cao vai trò của đô thị trong lịch sử phát triển nhân loại (Nguyễn Minh Tuệ, 2005). Vậy đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư vào một khu vực nhất định, tại đó có sự chuyên dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất phi nông nghiệp tăng đồng thời hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị. Ở những nước có trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao thì tỷ lệ đô thị hoá càng cao.
Khi đánh giá về đô thị hoá người ta thường sử dụng 2 tiêu chí, đó là mức độ đô thị hoá và tốc độ đô thị hoá: Mức độ DTH (hay còn gọi là tỷ lệ DTH) là chỉ tiêu thé hiện sự phát triển mở rộng của đô thị được xác định bằng tỷ lệ dân số khu vực nội thành, nội thị so với tong dân số toàn đô thị.