MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đô thị hóa là quá trình tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á trong đó có Việt Nam. Đô thị hóa góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, của một quốc gia và nâng cao đời sống cho con người. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình đô thị hóa cũng đang phát sinh nhiều vấn đề nan giải.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, quá trình đô thị hóa tương đối nhanh đã có những ảnh hưởng đáng kể đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, đến sự cân bằng sinh thái, tài nguyên đất bị khai thác triệt để để xây dựng đô thị, làm giảm diện tích cây xanh và mặt nước, gây ra úng ngập. Mở rộng không gian đô thị dẫn đến chiếm dụng đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến vấn đề an toàn lương thực quốc gia và đến đời sống của nhân dân ngoại thành; sản xuất công nghiệp phát triển mạnh làm phát sinh một lượng lớn chất thải, trong đó chất thải nguy hại ngày càng gia tăng. Đồng thời đô thị hóa làm tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị, gây nên áp lực đáng kể về nhà ở và vệ sinh môi trường.HCM đang bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đô thị hóa tương ứng với quá trình phát triển kinh tế hiện tại, chính phủ Việt Nam đã đặc biệt chú trọng vào việc phát triển hệ thống đô thị. Cam kết này được nêu rõ trong phát biểu “Việt Nam sẽ chỉ có một cơ hội duy nhất để đô thị hóa đúng đắn.
Nếu thất bại trong đô thị hóa, chúng ta cũng sẽ thất bại trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa” (Nguyễn Sinh Hùng, 2019). Cũng theo mục tiêu đó, đánh giá đô thị được thực hiện để tìm hiểu các khía cạnh và phương diện chính của quá trình đô thị hóa tại khu Đông - TP.HCM, đồng thời xác định các xu hướng, cơ hội, thách thức và chính sách ưu tiên mà Chính phủ cần giải quyết để thực hiện mục tiêu nói trên. Như một quy luật, đô thị trong quá trình phát triển luôn biến đổi để thích nghi. Vấn đề đô thị và đô thị hóa đã được nghiên cứu từ lâu và hiện nay vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu trên thế giới, riêng ở Việt Nam chỉ mới được tập trung nghiên cứu từ giữa thập niên 90.
Việc theo dõi các yếu tố biến động theo thời gian và không gian của đô thị rất hữu 2 ích cho các nhà quản lý và quy hoạch để vạch ra những chiến lược phát triển đô thị thích hợp. Theo đó, khu Đông là một trong những không gian đô thị mới có tốc độ phát triển nhanh chóng nhất tại Việt Nam, song song với sự mở rộng không gian đô thị đã bộc lộ nhiều vấn đề tiêu cực như ô nhiễm môi trường, vấn đề về nhà ở, gia tăng chênh lệch giàu nghèo. Quá trình này làm thay đổi đáng kể đến hệ sinh thái, môi trường đô thị khi các bề mặt tự nhiên chuyển đổi thành các bề mặt nhân tạo. Tốc độ đô thị hóa nhanh tại khu Đông đã và đang tạo ra áp lực lớn đối với môi trường, sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh.
Khu Đông Sài Gòn bao gồm 3 quận đó là quận 2 và quận 9 và Thủ Đức. Quận 2 với các khu đô thị mới như Thủ Thiêm, Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái. Quận 9 bao gồm các dự án dọc trục cao tốc Long Thành Dầu Giây. Việc xây dựng, quy hoạch một đô thị, khu trung tâm tài chính, kinh tế tại khu vực phía đông Thành phố sẽ làm thay đổi bộ mặt đô thị của toàn Thành phố.
Tuy về hình dáng, tổ chức không gian, cảnh quan đô thị vẫn phải theo nguyên tắc quy hoạch đô thị nhưng với tiêu chí tiếp cận giải pháp đô thị thông minh 4.0, tất cả công trình sẽ phải đạt đến trình độ thuận tiện cao nhất, giúp thay đổi mọi hoạt động, nâng cấp chất lượng cuộc sống của người dân. Bên cạnh các phương pháp truyền thống, viễn thám ngày càng được ứng dụng trong nhiều nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu của một đô thị. Việc ứng dụng công nghệ viễn thám để nghiên cứu vấn đề này có nhiều tiềm năng do ảnh vệ tinh có khả năng cung cấp được nhiều thông tin hữu ích trên một phạm vi rộng lớn, theo chu kì và thể hiện hình ảnh không gian. Ngoài ra, viễn thám còn là một kỹ thuật nổi bật trong quá trình đánh giá nhờ khả năng cung cấp thông tin nhanh chóng, chi phí hợp lý và thông tin bao phủ toàn khu vực nghiên cứu.
Do đó, việc áp dụng công nghệ viễn thám hỗ trợ trong nghiên cứu đánh giá các chỉ tiêu đô thị là khả thi theo không gian và thời gian. Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Đánh giá không gian phát triển đô thị khu Đông TP.HCM bằng phương pháp viễn thám” được thực hiện. Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu cung cấp các thông tin hữu ích đến nhà quản lý là việc làm thiết thực hướng đến mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá phát triển không gian đô thị ở khu Đông TP.HCM theo thời gian từ ảnh viễn thám, và tác động của đô thị hóa lên môi trường đô thị nhằm hỗ trợ công tác quản lý môi trường đô thị hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống, phục vụ cho việc phát triển bền vững của đô thị.
Nội dung nghiên cứu (1). Tổng quan các tài liệu, cơ sở dữ liệu liên quan, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ứng dụng viễn thám trong đánh giá biến động đô thị (2). Phân tích hiện trạng lớp phủ bề mặt khu Đông giai đoạn 2001 – 2019 từ xử lý ảnh viễn thám. Đánh giá không gian phát triển đô thị khu Đông (4).
Phân tích quan hệ lớp phủ đô thị và yếu tố môi trường nhiệt (5). Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển đô thị bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu hiện nay cho khu Đông. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các lớp thực phủ trên bề mặt đất, đặc biệt là lớp phủ đô thị và các yếu tố môi trường được trích xuất trực tiếp từ ảnh vệ tinh, bao gồm: chỉ số thực vật NDVI, nhiệt độ bề mặt LST LST – Land Surface Temperature NDVI – Normalized Differential Vegetation Index Dữ liệu sử dụng: Đề tài chọn ảnh viễn thám LANDSAT 7, LANDSAT 8 với ưu điểm là nguồn dữ liệu miễn phí, dễ dàng thu thập, và thích hợp cho nghiên cứu ở cấp thành phố. Phạm vi nghiên cứu: 4 Khu vực được chọn là Khu Đông TPHCM bao gồm 3 quận: Thủ Đức, Quận 2 và Quận 9, nơi sẽ trở thành hạt nhân cốt lõi thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 của thành phố.
Thời gian nghiên cứu: Theo dõi biến động trong khoảng thời gian 18 năm, giai đoạn từ 2001 đến 2019. Giới hạn nghiên cứu: Trong luận văn này, khái niệm không gian đô thị được xem xét tương đồng với lớp phủ đô thị của khu Đông. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Dự đoán được xu hướng đô thị hóa và đánh giá không gian phát triển đô thị phía Đông – TP.HCM là một trong những yêu cầu cấp thiết, điều đó giúp cho các nhà quản lý hoạch định chính sách tốt hơn để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về phát triển đô thị. Việc nghiên cứu ứng dụng viễn thám đang mang tính phổ biến toàn cầu đối với việc quan sát biến động sử dụng đất và thực phủ.
Đặc biệt là phân tích đánh giá hiện trạng sử dụng đất tại các thời điểm trong quá khứ. Với tầm quan sát vĩ mô và có tính cập nhật liên tục về thời gian của dữ liệu ảnh vệ tinh, có thể giúp cho các nhà quản lý có thể phát hiện và dự báo ra những bất thường về việc sử dụng đất đô thị cũng như biến động của nó. Từ đó, người quản lý có thể sử dụng những ảnh vệ tinh có độ phân giải cao hơn để phân tích chi tiết những thay đổi đó và dự báo các xu hướng thay đổi, mở rộng và phát triển trong tương lai. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng thị trường, sự bùng nổ các hoạt động thương mại và dịch vụ góp phần tạo nên những nhu cầu mới về nhà ở đô thị.
Phát triển đô thị song hành là điều tất yếu của sự phát triển xã hội, sau một vài mô hình thí điểm tương đối thành công, hàng loạt dự án các khu đô thị mới mọc lên với nhiều loại hình, quy mô và tính chất khác nhau. Bên cạnh những ưu điểm đã được thành phố thừa nhận về không gian sống, môi trường trong sạch và hạ tầng tương đối hoàn chỉnh các khu đô thị mới cũng bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt về mặt văn hoá – xã hội, môi trường sống, kiến trúc cảnh quan. Những vấn đề này ngày càng cấp thiết, đòi hỏi phải tìm hướng 5 giải quyết trong thời gian tới. Từ trường hợp nghiên cứu đánh giá không gian phát triển đô thị khu Đông, có thể là kinh nghiệm thực tiễn tốt góp phần phát triển, và đề xuất một số định hướng, giải pháp nhân rộng cho sự phát triển bền vững các khu đô thị mới trên phạm vi cả nước trong giai đoạn sắp tới.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÔ THỊ 1. Khái niệm Đô thị là khu vực tập trung đông dân cư sinh sống và chủ yếu hoạt động trong những lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, du lịch và dịch vụ của cả nước hoặc vùng lãnh thổ bao gồm thị trấn, thị xã, thành phố (thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương). Theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm của Chính phủ về việc phân loại đô thị và cấp quản lí đô thị thì đô thị là các điểm dân cư có các yếu tố cơ bản: 1) Là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định; 2) Quy mô dân số ít nhất là 4.000 người; 3) Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động tối thiểu là 65%; 4) Cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại đô thị; 5) Mật độ dân cư phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị.