Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở ĐÔ THỊ 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Vấn đề di dân nói chung trong đó có vấn đề nhập cư đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới kể từ đầu thế kỷ XIX trên cơ sở hợp tác của nhiều ngành khoa học. Các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: khái niệm di dân; khái niệm nhập cư; nguyên nhân nhập cư; những tác động của người nhập cư đối với phát triển kinh tế - xã hội ở nơi đến; chính sách, biện pháp đối với hiện tượng nhập cư… Có thể liệt kê một số công trình sau: - Sách The Methods and Materials of Demography (Các phương pháp và tài liệu của nhân khẩu học) của Henry. Siegel và các cộng sự [84, tr.
Trong cuốn sách, các tác giả đã cho rằng: Di dân là một hình thức di chuyển về địa lý hay không gian kèm theo sự thay đổi nơi ở thường xuyên giữa các đơn vị hành chính. Theo các tác giả, sự thay đổi nơi ở tạm thời như thăm viếng, du lịch, buôn bán, kể cả qua lại biên giới, không là di dân. Như vậy, theo định nghĩa này, không phải mọi sự di chuyển của con người đều là di dân mà di dân còn phải gắn liền với sự thay đổi các quan hệ xã hội của người di chuyển. - Sách Xã hội học của Richard T.668-696], tại Chương 21 với tên chương Dân số và môi trường, có mục Dân số và nhập cư đề cập đến 2 khía cạnh: nhập cư trên thế giới và nhập cư trong nước (nước Mỹ).
Theo tác giả: nhập cư là một hiện tượng xã hội phức tạp và là kết quả của đủ loại yếu tố, trong đó yếu tố kinh tế là nổi trội. - Sách Xã hội học của John và Macionis [86, tr.66-702] Trong công trình này, có nội dung bàn về sự nhập cư và đô thị hóa. Các tác giả cho rằng, sự nghèo đói ở các ngôi làng ở nông thôn là một “yếu tố đẩy quan trọng” còn cuộc sống sung túc ở thành phố là yếu tố kéo; ngoài ra còn có 9 thể có sự can thiệp của yếu tố đối lập chính trị, tôn giáo hoặc là sự đi tìm “bầu không khí dễ chịu để định cư”, qua đó chúng ta liên tưởng đến mối quan hệ giữa di dân và đô thị hóa. - Bài báo A Theory of Migration (Lý thuyết di dân) của Everett S.
Trong bài báo, di cư được định nghĩa một cách rộng rãi như là một sự thay đổi tạm thời hoặc vĩnh viễn nơi cưu trú. Không có giới hạn nào về khoảng cách của sự di chuyển hoặc theo tính chất tự nguyện hoặc không tự nguyện của hành động, và không có sự khác biệt nào giữa di cư bên ngoài và nội bộ. Lee cho rằng nguyên nhân và hậu quả của sự di cư là có khác nhau. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định không phải tất cả các loại di chuyển trong không gian đều được bao gồm trong định nghĩa này.
Trong bài báo, tác giả đã tổng kết một số các yếu tố quyết định đến việc nhập cư của người dân từ nông thôn ra thành thị. Lee thừa nhận, di dân nông thôn - đô thị chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội nhưng ở cấp độ khác nhau. Lee lập luận rằng quyết định nhập cư được dựa trên 4 nhóm yếu tố: (1) các yếu tố gắn bó với nơi ở gốc; (2) Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến; (3) các trở ngại nhập cư và (4) các yếu tố thuộc về người nhập cư. Trong đó, quan trọng hơn cả là những yếu tố cơ bản liên quan đến nơi đi, gọi là “lực đẩy” và nơi đến gọi là “lực hút”.
Lực đẩy: Là những yếu tố, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, chính trị, văn hoá… Ở vùng xuất phát không đáp ứng các nhu cầu sống (nhu cầu vật chất, tinh thần, nhu cầu về lao động, việc làm…) đã đẩy họ ra ngoài nơi họ đang sinh sống, khiến họ phải đi tìm vùng đất mới nhằm thoả mãn các nhu cầu của họ. Trong quá trình nhập cư từ nông thôn ra đô thị, lực đẩy được xác định chủ yếu là do sự khan hiếm về đất canh tác, thiếu việc làm, thừa lao động, tiền công ít ỏi, mong muốn tìm đến vùng đất hứa có khả năng kiếm việc làm, tăng thu nhập để đầu tư cho con cái học hành với mong muốn cải thiện cuộc sống của thế hệ tương lai… tại các vùng nông thôn. Ngoài ra còn có thể tính đến những yếu tố có 10 tính phi kinh tế có tính đặc thù riêng của người di chuyển như các yếu tố tinh thần, tình cảm, đặc điểm cá nhân… Lực hút: Là những điều kiện, yếu tố thuận lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá ở nơi đến (vùng nhập cư) đã cuốn hút người nhập cư ở nơi khác di chuyển đến làm việc và sinh sống. Lực hút ở đô thị thường là cơ hội sống thuận tiện, có khả năng tìm kiếm việc làm có thu nhập cao hơn, có triển vọng cải thiện đời sống hơn, thuận tiện trong sản xuất kinh doanh, có điều kiện tốt hơn về giáo dục, y tế, dịch vụ xã hội so với ở nông thôn.
Tuy nhiên, lý thuyết “hút - đẩy” không phải là lý thuyết hoàn chỉnh có thể thuyết phục được tất cả mọi người vì nó không lý giải được tại sao trong cùng một hoàn cảnh có một số người nhập cư, còn số khác thì không. - Bài báo The Laws of Migration (Các qui luật của di dân) của E. Đây là một trong những lý thuyết về di dân sớm nhất trong trường phái cổ điển, được đưa ra vào cuối thế kỉ XIX. Ông đã đưa ra lý thuyết di dân với nội dung cơ bản sau: hầu hết các cuộc di chuyển của dân cư diễn ra trong khoảng cách ngắn; nữ giới tham gia di chuyển nhiều hơn nam giới trong khoảng cách ngắn; mỗi dòng di dân đều có dòng di dân ngược lại; di dân từ nông thôn đến thành phố chủ yếu diễn ra theo từng giai đoạn và động lực thúc đẩy chủ yếu của di dân là kinh tế.
Theo ông, nhập cư xảy ra sớm bởi sự khác biệt về trình độ phát triển, bởi tiến trình công nghiệp hoá và phát triển thương mại giữa các khu vực của một quốc gia. Mặt khác, sự nhập cư bị chi phối bởi khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những người sống ở khu vực kém phát triển hay nghèo khổ thường có xu hướng chuyển đến những khu vực phát triển hơn. Có nghĩa là con người nhập cư vì sự chênh lệch về kinh tế giữa nơi đi và nơi đến.
- Bài báo Economic Development with Unlimited Supplies Labour (Sự phát triển kinh tế với nguồn cung lao động vô hạn) của William Arthur Lewis [89, tr.139-191] là sự phát triển lý thuyết di dân của E. 11 Theo ông, dân số nhập cư vào đô thị vì những lí do sau: Thứ nhất, sự tăng trưởng kinh tế và sự mở rộng của khu vực công nghiệp đặt ra đòi hỏi phải có thêm lực lượng lao động đáp ứng. Sự tăng lên không ngừng của dân số trong khi đất đai không tăng đã làm cho lao động nông nghiệp dư thừa. Số lao động dư thừa này có khuynh hướng tìm kiếm các cơ hội làm việc tại các khu công nghiệp và thành phố, nơi có nhu cầu tuyển dụng.
Lewis coi đây là sự điều tiết có tính chất tự nhiên, là sự cân bằng lao động giữa các khu vực, các ngành nghề. Thứ hai, do sự chênh lệch về mức lương giữa nông thôn và đô thị. Sự nhập cư lao động này sẽ dừng lại khi mức lương ở đô thị cân bằng với mức thu nhập của người dân ở nông thôn. Chính từ quan điểm này, nhiều nhà nghiên cứu gọi lí thuyết của Lewis là mô hình cân bằng.
Như vậy, Lewis cho rằng chính sự chênh lệch về thu nhập, việc làm giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp là nguyên nhân chính của việc nhập cư vào đô thị. - Bài báo Migration, Unemployment and Development: A Two-Sector Analysis (Di dân, thất nghiệp và sự phát triển: Nghiên cứu 2 khu vực) của John H. Harris và Micheal Torado [85, tr. Từ hướng tiếp cận kinh tế học, hai tác giả John H.
Harris và Micheal Torado đã nghiên cứu hiện tượng nhập cư vào thành thị tăng tốc trong bối cảnh thất nghiệp ở thành thị vẫn tiếp tục gia tăng. Khác với mô hình “Hai khu vực” (Dual sector- khu vực kép) của Arthur Lewis lý giải nguồn gốc của việc nhập cư dựa vào giả định “dư thừa lao động” trong khu vực nông thôn, mô hình “Thu nhập kỳ vọng” của Harris - Todaro giải thích quyết định của người lao động nhập cư từ khu vực nông thôn ra thành thị dựa trên sự khác biệt về mức thu nhập dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mức thu nhập trung bình đang có ở nông thôn. Như vậy, nghiên cứu của hai ông đã bổ sung thêm nguyên nhân nhập cư vào thành thị ở các nước đang phát triển bao 12 gồm cả sự kỳ vọng của người nhập cư về khả năng thu nhập ở thành thị cao hơn và cuộc sống tốt hơn. Đặc biệt, mô hình Harris - Todaro thừa nhận sự tồn tại của khu vực kinh tế phi chính thức (Informal Sector).
Đó là khu vực kinh tế bao gồm các hoạt động, không hoàn toàn là bất hợp pháp, nhưng thường cũng không được sự thừa nhận chính thức của xã hội và hầu hết các hoạt động này đều không đăng ký với nhà nước. Chẳng hạn như lao động phục vụ gia đình, hành nghề tự do, xe ôm, bán hàng rong, mài dao kéo, dịch vụ ăn uống vỉa hè, thu lượm ve chai, đồng nát, đánh giày, mại dâm, v. Sự hiện diện của khu vực kinh tế phi chính thức đã giúp giải thích cho việc tại sao tỷ lệ thất nghiệp tại các đô thị cao nhưng vẫn có hàng dòng người từ nông thôn đổ vào thành thị tìm việc làm. Bởi vì họ sẵn sàng bổ sung vào khu vực kinh tế phi chính thức, nơi đồng tiền kiếm được vẫn cao hơn ở lại nông thôn.
- Bài báo The Economics of Immigration (Kinh tế xuất nhập cảnh) của George J. Trong bài báo, tác giả tóm tắt lịch sử nhập cư của Hoa Kỳ và chỉ ra những tác động của việc nhập cư đến nền kinh tế Hoa kỳ.