Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh được các nhà khoa học nghiên cứu một cách công phu, có hệ thống trên nhiều lĩnh vực như: triết học, chính trị, văn hoá, đạo đức, giáo dục, ngoại giao.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có các công trình tiêu biểu như sau: Giáo sư Trần Văn Giàu đã dày công nghiên cứu sự phát triển của tư tưởng Việt Nam (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 1996), với ba tập gồm: tập 1, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám: Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử; tập 2, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám: Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó trước các nhiệm vụ lịch sử; tập 3, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám: Thành công của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là công trình nghiên cứu công phu về sự phát triển tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám. Từ việc phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, tác giả đã chứng minh rằng, hệ tư tưởng phong kiến thất bại trước nhiệm vụ lịch sử là tất yếu. Tư tưởng phong kiến đã rất lạc hậu so với thời đại.
Hệ tư tưởng tư sản cũng trở nên bất lực trước yêu cầu mới của lịch sử, đã không thể dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi đến mục tiêu độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã soi đường cho cách mạng Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của công trình này đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời là để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng 8 luan an Việt Nam. Đây là nguồn tài liệu quí để chúng tôi tham khảo, kế thừa.
Điều đó cho thấy, cơ sở quan trọng hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là từ bối cảnh xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, từ những trải nghiệm trong quá trình tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh, đặc biệt là sự kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tác giả Trương Văn Chung và Doãn Chính (chủ biên): Bước chuyển tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005). Đây là công trình tập trung phân tích bối cảnh lịch sử, các điều kiện khách quan và chủ quan tác động đến xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Từ đó, các tác giả đã đi đến lý giải một cách rõ ràng nhất những chuyển biến tư tưởng có ý nghĩa canh tân, thúc đẩy lịch sử và cả những hạn chế của lịch sử các phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, vận động Duy Tân, Việt Nam Quang phục Hội… Đặc biệt, các tác giả đã chứng minh: Trên cơ sở nắm vững xu thế thời đại, vượt qua tầm nhìn hạn chế và từ những bài học thất bại của các bậc tiền bối yêu nước đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã xác định con đường đúng đắn, phù hợp cho dân tộc Việt Nam, đưa cách mạng nước ta giành thắng lợi.
Sự kết hợp giữa chủ nghĩa yêu nước với tinh hoa văn hoá nhân loại, sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện Việt Nam là cơ sở quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là tài liệu có giá trị, chúng tôi sẽ kế thừa trong quá trình phân tích cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Tác giả Phạm Ngọc Anh (chủ biên): Triết lý phát triển Hồ Chí Minh – giá trị lý luận và thực tiễn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009). Các tác giả đã phân tích nguồn gốc hình thành triết lý phát triển Hồ Chí Minh, một trong những nguồn gốc quan trọng là giá trị hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh.
Về nội dung của triết lý phát triển Hồ Chí Minh, cuốn sách tập trung phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu và con đường phát triển của xã hội Việt Nam; về mô thức phát triển đất nước trong triết lý phát triển Hồ Chí Minh; về động lực và các nguồn lực phát triển dân tộc theo triết lý phát triển 9 luan an Hồ Chí Minh… Kết quả nghiên cứu của công trình cho chúng ta thấy rằng: cơ sở quan trọng hình thành triết lý Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nói riêng từ chính quá trình trải nghiệm thực tiễn, từ nhân tố chủ quan của bản thân Hồ Chí Minh: với phong cách tư duy khoa học và cách mạng; độc lập, tự chủ, sáng tạo, đặc biệt là năng lực tổng kết thực tiễn. Tác giả Mạch Quang Thắng (chủ biên): Nhân cách Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010). Các tác giả đã chứng minh, Hồ Chí Minh có một nhân cách cao đẹp, vĩ đại, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình phát triển của nhân loại thế kỷ XX, góp phần làm phong phú thêm những giá trị chung của loài người. Qua đó, các tác giả đã làm rõ các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến sự hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách Hồ Chí Minh như: nhân tố gia đình, quê hương, nhân tố truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, nhân tố thời đại, phẩm chất cá nhân con người Hồ Chí Minh.
Cùng tác giả Mạch Quang Thắng với bài viết: Tư tưởng Hồ Chí Minh – Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác – Lênin (Tạp chí Lý luận chính trị, số 07/2020), đã chỉ ra rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp nối lý luận của học thuyết Mác – Lênin ở nhiều điểm. Trong đó, năm điểm chính là: Về mục tiêu và con đường phát triển của dân tộc Việt Nam; đối với cách mạng giải phóng dân tộc; đối với vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền; vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền; về xây dựng CNXH. Những tư liệu này cung cấp thêm những luận cứ để chúng tôi phân tích, làm rõ cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Mặc dù không có công trình nào đi sâu nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhưng khi nghiên cứu tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh, các tác giả đã dành một phần để nghiên cứu vấn đề này.
Tác giả Lê Hữu Nghĩa (Chủ biên): Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh (Nxb Lao động, Hà Nội, 2000); Tác giả Nguyễn Đức Đạt: Tư tưởng biện chứng Hồ Chí Minh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005); Tác giả Trần Văn Phòng và Hoàng Anh: Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh - một số vấn đề cơ bản (Nxb 10 luan an Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2015); Tác giả Trần Nhâm: Hồ Chí Minh - nhà tư tưởng thiên tài (Nxb Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2015). Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu, phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về khái niệm lý luận, thực tiễn; mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Các tác giả cũng thống nhất quan điểm: tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là kết quả của sự nghiên cứu, tiếp thu lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng điểm nổi bật là những lý luận ấy được Hồ Chí Minh diễn đạt dưới hình thức đơn giản, dễ hiểu, thực tế, nhưng lại hết sức sâu sắc, tinh tế, tạo nên một hệ thống lý luận vừa khoa học, vừa thiết thực. Khi luận giải quan điểm của Hồ Chí Minh về lý luận, các tác giả đều đi đến nhận định rằng, khi bàn về khái niệm lý luận, Hồ Chí Minh đã thể hiện rất rõ quan điểm biện chứng, đặt trong mối quan hệ với thực tiễn.
Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà thành, nhưng lý luận chân chính là lý luận phải được chứng minh trong thực tế. Chúng tôi tán thành với những nhận định này. Điều này thể hiện rõ nhất trong quan điểm của Hồ Chí Minh về lý luận, thể hiện trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi đem nó chứng minh với thực tế.
Đó là lý luận chân chính” [75, tr.273] và thể hiện trong Bài nói chuyện tại Trường Nguyễn Ái Quốc vào năm 1957: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [81, tr. Về khái niệm thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các tác giả đã chỉ ra rằng, Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Mặc dù hai khái niệm này có nội hàm khác nhau. Thực tế rộng hơn thực tiễn.
Hồ Chí Minh tiếp cận khái niệm thực tiễn đúng như quan điểm của triết học Mác – Lênin – là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Với khái niệm thực tế, được Hồ Chí Minh lý giải: “Thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật. Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là 11 luan an những vấn đề mà cách mạng đề ra cho chúng ta giải quyết. Thực tế bao gồm rất rộng.
Nó bao gồm kinh nghiệm công tác và tư tưởng của cá nhân, chính sách và đường lối của Đảng, kinh nghiệm lịch sử của Đảng cho đến các vấn đề trong nước và trên thế giới” [81, tr.