Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển hạ tầng xã hội tại các KCN - Chương 2: Phương pháp nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển hạ tầng xã hội tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2008-2015 - Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách phát triển hạ tầng xã hội tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG XÃ HỘI TẠI CÁC KCN 1. Tình hình nghiên cứu về phát triển hạ tầng xã hội tại các KCN Phát triển hạ tầng tại các KCN cũng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên hầu hết mới chỉ tập trung nghiên cứu về hạ tầng kỹ thuật, chưa có nhiều nghiên cứu về hạ tầng xã hội tại các KCN, hoặc chỉ nghiên cứu về một khía cạnh trong đó. Vì vậy đây là vấn đề mới và khó, tác giả sẽ vận dụng và kế thừa các công trình trước đó để sử dụng cho luận văn của mình.
Một số tham luận, bài phát biểu tại các hội nghị, hội thảo, các công trình nghiên cứu về KCN đã được phổ biến. Sách và tài liệu chuyên khảo về xây dựng và phát triển hạ tầng tại các KCN tác giả đã tiếp cận được như sau: - Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế Chính trị “Giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp - Nghiên cứu trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ” của Bùi Văn Dũng (2015) làm rõ bản chất của việc giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp, từ đó luận án đề xuất những phương hướng giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động các khu công nghiệp trên địa bàn một số tỉnh Bắc Trung bộ. - Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế “Phát triển các khu công nghiệp đồng bộ trên địa bàn Hà Nội” của Nguyễn Ngọc Dũng (2011) đã luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn, cũng như phân tích thực trạng của việc phát triển các KCN đồng bộ trên địa bàn Hà Nội trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta. Trên cơ sở đó tác giả đề xuất quan điểm, định hướng, giải pháp về việc phát triển các KCN đồng bộ trên địa bàn Hà nội.
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay” do tác giả Lê Thị Lan Hương, Ban Tuyên Giáo, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam thực hiện năm 2015 đã hệ 4 z thống hoá và bổ sung, phát triển lý luận về văn hóa, nhu cầu, đời sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp; Khái quát thực trạng, phát hiện những vấn đề đặt ra đối với nhu cầu đời sống văn hóa tinh thần của công nhân các khu công nghiệp hiện nay; Đề xuất giải pháp và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân khu công nghiệp trong thời gian tới. - Đề tài nghiên cứu khoa học “Chăm sóc con công nhân lao động trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tại các khu công nghiệp- thực trạng và giải pháp” do nhóm nghiên cứu Ban Nữ công Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam thực hiện năm 2014 thực hiện trên 7 tỉnh,thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh và Đồng Nai đã chỉ ra thực trạng chăm lo cho con công nhân lao động trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tại các Khu công nghiệp. Trên cơ sở nghiên cứu, nhóm thực hiện Đề tài đã đưa ra 3 nhóm giải pháp và các kiến nghị với Đảng, Nhà nước, Tổng Liên Đoàn; chính quyền địa phương và Doanh nghiệp trong việc chăm sóc con công nhân lao động độ tuổi nhà trẻ mẫu giáo trong các KCN. - Luận văn Thạc sĩ xã hội học “ Những rào cản đối với việc tiếp cận dịch vụ y tế của lao động nhập cư ở khu công nghiệp” của Đinh Thị Giang (2014) đã nghiên cứu trường hợp tại khu công nghiệp Bắc Thăng Long, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Công trình đã chỉ ra những rào cản trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của lao động nhập cư ở KCN hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp giúp lao động nhập cư tháo gỡ các khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế. - Lê Quốc Hội (2012) với đề tài “Việc làm và đời sống của người lao động các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế ở Việt Nam”, đã phân tích đánh giá những hạn chế yếu kém trong quy hoạch và xây dựng các công trình nhà ở, trường học, cơ sở y tế, khu vui chơi giải trí cho người lao động trong các KCN. - Đề tài khoa học cấp Bộ do tác giả Lê Xuân Bá làm chủ nhiệm năm 2007 “Cơ chế ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế xây dựng nhà ở cho công nhân, người lao động tại các KCN, KCX”. Đề tài đã xác định được tầm quan trọng của giải quyết nhà ở cho công nhân KCN, KCX, tình hình nhà ở, 5 z chất lượng nhà ở cho người lao động, những tồn tại, từ đó đề xuất giải pháp và kiến nghị tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, các tài liệu của các Hội nghị, Hội thảo chuyên đề về xây dựng và phát triển hạ tầng KCN được nghiên cứu gồm: - Các tài liệu trong các Hội nghị, Hội thảo chuyên đề về xây dựng và phát triển hạ tầng KCN được nghiên cứu như Hội nghị “Tổng kết 20 năm xây dựng và phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế ở Việt Nam” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 17/02/2012. Hội nghị đã tổng kết, đánh giá đầy đủ và toàn diện quá trình xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKT trong 20 năm qua, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng phát triển KCN, KCX, KKT trong giai đoạn tới. - Hội thảo Quốc gia về “Nhà ở công nhân- thực trạng và giải pháp” 2011 là tập hợp những bài tham luận của các chuyên gia và các bộ ban ngành về thực trạng nhà ở cho công nhân, từ đó kiến nghị với Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp. Nhìn chung, các công trình trên đã khái quát vai trò KCN trong phát triển kinh tế- xã hội, trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, lý luận về một số khái niệm trong luận văn như sử dụng như khái niệm hạ tầng xã hội, kết cấu hạ tầng xã hội.
Qua đó giúp tác giả có thể tham khảo cho phần cơ sở lý luận chung. Đồng thời, các công trình nghiên cứu trên cũng đã có những đóng góp lý luận và thực tiễn về phát triển KCN nói chung và đã đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm phát triển hạ tầng KCN, tuy nhiên các công trình trên vẫn chưa đi sâu nghiên cứu chính sách phát triển hạ tầng tại các KCN một cách hoàn chỉnh. Nhiều công trình nghiên cứu về hạ tầng KCN, cũng có luận án đề cập tới tiêu chí đánh giá thực trạng chính sách nói chung. Do vậy tác giả có thể tham khảo các tiêu chí đó để đo lường cho tiêu chí đánh giá chất lượng chính sách hạ tầng KCN.
Như vậy, chưa có một tài liệu nào nghiên cứu về chính sách phát triển hạ tầng xã hội có tính hệ thống. Các nghiên cứu và tài liệu tác giả nêu trên chỉ tập 6 z trung đánh giá vào thực trạng phát triển KCN. Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về hạ tầng KCN nhưng chỉ dừng lại ở nêu và đưa ra các giải pháp trong gắn kết các giải pháp về chính sách của nhà nước. Do vậy, nghiên cứu này nhằm bù đắp vào khoảng trống đó trong lĩnh vực nghiên cứu.
Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển hạ tầng xã hội KCN trên địa bàn thành phố 1. Những vấn đề chung về chính sách phát triển hạ tầng KCN trên địa bàn Hà Nội 1. Kết cấu hạ tầng và hạ tầng xã hội a) Khái niệm kết cấu hạ tầng Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường. Một cách khái quát, kết cấu hạ tầng là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân, có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục.
Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau. Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống. Trong nhiều công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ tầng thành hai loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội. - Kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật: thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính- viễn thông, các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp.
Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong 7 z hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư. - Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết bị đồng bộ với chúng.