CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY MÔ CHÍNH PHỦ VÀ MỤC TIÊU TĂNG TRƯỜNG KINH TẾ CỦA QUỐC GIA.1 Chính sách tài khóa và hoạt động thu, chi ngân sách. Khi nói về chính sách tài khóa thì mô hình của Keynes được xem là mô hình điển hình nhất với những khái niệm rất cụ thể được đề cập đến như chính sách tài khóa chủ động, công cụ bình ổn tự động (hay chính sách bình ổn tự động) và những hoạt động liên quan đến thâm hụt ngân sách và nợ công. Lấy nền tảng từ mô hình của Keynes, cơ sở lý thuyêt của tác giả đã được xây dựng dựa trên đó.1 Chính sách tài khóa chủ động. Chính sách tài khóa chủ động được định nghĩa là chính sách điều tiết thu nhập và chi tiêu ngân sách.
Nói một cách dễ hiểu đó là việc chính phủ chủ động điều chỉnh thu chi chính phủ một cách chủ động và hợp lý để đạt được một mục tiêu kinh tế cụ thể. Chính sách tài khóa được phân biệt dưới 2 dạng chính là chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu hẹp. Việc phân loại như vậy chủ yếu là do tác động của chính sách tài khóa lên sản lượng của nền kinh tế. Cụ thể là chính sách tài khóa mở rộng kích thích tăng trưởng kinh tế và được áp dụng khi nền kinh tế rơi vào tính trạng suy thoái hoặc khủng hoảng, sản lượng thực tế của toàn nền kinh tế thấp hơn sản lượng tiềm năng.
Nếu nhìn trên biểu diễn của đường giới hạn khả năng sản xuất, thì nền kinh tế đang ở bên trong đường biểu diễn, nghĩa là các nguồn lực đang dư thừa và nên thúc đẩy tăng trưởng và gia tăng việc làm. Vì thế, nếu nền kinh tế không chịu áp lực lạm phát thì đây chính là điều kiện thuận lợi để chúng ta thực hiện chính sách này. Mặc khác, chính sách tài khóa thu hẹp nhằm kìm hãm tăng trưởng và lạm phát khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng quá cao và quá nóng, các nguồn lực trong nền kinh tế bị sử dụng quá tải và nguy cơ lạm phát cao xuất hiện. Thâm hụt, thặng dư hay cân bằng ngân sách là kết quả gây ra từ quyết định của chính phủ liên quan đến thay đổi về thu nhập hoặc chi tiêu ngân sách.
Những công cụ 123doc 5 chính của chính sách tài khoa chủ động là chi tiêu mua sắm chính phủ và thuế. Để hiểu rõ ràng hơn thì sự thay đổi về chi tiêu mua sắm của chính phủ sẽ có tác động trực tiếp tới tổng cầu (AD) vì thu chi chính phủ là nhân tố nằm ngay trong công thức tính tổng cầu. Mặc khác, thuế lại có tác động gián tiếp đến tổng cầu vì nó sẽ giúp tăng (hoặc giảm) thu nhập của hộ gia đình và tăng (hoặc giảm) lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Chính phủ có thể sử dụng 1 trong 2 hoặc cả công cụ trên.
Cần lưu ý rằng việc sử dụng công cụ này nhiều hơn công cụ khác sẻ ảnh hưởng đến cơ cấu thu và chi ngân sách nhà nước. Chính sách tái khóa mở rộng hoặc thu hẹp có cơ chế tác động giống nhau đến sản lượng nhưng sự khác nhau nằm ở chiếu hướng tác động. Các mô hình IS – LM và AD – AS có thể minh họa rõ cho vấn đề này.1 Mô hình IS – LM và mô hình AD - AS Nguồn: Todaro và Smith (2003) Khi nền kinh tế đang ở trạng thái dưới mức tiềm năng, trạng thái cân bằng tạm thời đó là điểm E. Để đưa nền kinh tế về vị trí tối ưu hơn, chính phủ đã áp dụng chính sách tài khóa mở rộng (cụ thể trong ví dụ này là giảm thuế).
Việc giảm thuế của chính phủ đã kích thích nhu cầu tiêu dùng và tịnh tiến đường IS sang bên phải với thu nhập 123doc 6 quốc dân cao hơn so với ban đầu và lãi suất cao hơn sao với ban đầu. Đặc biệt, khi lãi suất cao hơn, nó là nên tảng thúc đẩy đầu tư ở khu vực tư nhân, đây cũng là nhân tố khiến cho tổng cầu gia tăng trong mô hình AD – AS. Tuy nhiên, khi áp dụng chính sách tài khóa chủ động nguy cơ rơi vào bẫy lạm phát là rất cao nếu không có những tính toán phù hợp để điều chỉnh chính sách hợp lý. Có thể thấy rõ điều này thông qua minh họa ở hình bên trên, khi mà tổng sản phẩm tăng do đường tổng cầu tịnh tiến sang phải thì nó cũng kéo theo việc tăng lên của giá bình quân.
Trong quá khứ, nền kinh tế Mỹ cũng đã vấp phải điều này trong giai đoạn đầu những năm 1970, lạm phát tại Mỹ tăng kỉ lục do những chính sách nới lỏng tài khóa trước đó và điều này khiến chính phủ Mỹ quan tâm nhiều hơn đến tác động của lạm phát.2 Chính sách tài khóa bình ổn. Chính sách tài khóa không chủ động hay còn gọi là chính sách bình ổn tự động là những qy định trong luật pháp mà những hiệu lực của chúng tạo nên các công cụ bình ổn nền kinh tế một cách tự động. Việc cho đây là các công cụ bình ổn tự động là do hầu như các quy định về pháp luật là do quốc hội ban hành và có rất ít thay đổi. thêm vào đó, vì đây là luật nên nó có tính tự động và thường xuyên.
Nói một cách ngắn gọn, tổng cầu sẽ tăng hoặc giảm dựa trên điều tiết từ những quy định trong luật. Chẳng hạn, trong thời kì mở rộng, tổng cầu sẽ bị kìm hãm do chi tiêu ngân sách giảm hoặc thu nhập ngân sách tăng một cách tự động. Và như vậy chính sách bình ổn tự động là cơ chế tự động làm giảm các dao động của chu kỳ tăng trưởng kinh tế. Những chính sách bình ổn tự động chính bao gồm: Hệ thống trợ cấp thất nghiệp Khi nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái, chi phí mà chính phủ dùng cho trợ cấp thất nghiệp sẽ tự động tăng lên.
Điều này sẽ giúp giảm áp lực giảm của chi tiêu hộ gia đình, và kết quả là tổng sản lượng giảm trong mô hình AD – AS sẽ ít hơn so với không có trợ cấp thất nghiệp. đồng thời khởi cách giữa tổng sản lượng thực tế và tổng sản 123doc 7 lượng tiềm năng cũng được giữ ở mức thấp hơn so vơi việc không có trợ cấp thất nghiệp. Ngược lại, khi nền kinh tế trong thời kỳ lạm phát cao, trợ cấp thất nghiệp sẽ ở mức thấp, nó góp một phần làm giảm chi tiêu chính phủ một cách tự động và đóng góp vào quá trình lấy lại trạng thái cân bằng của nền kinh tế. Thuế thu nhập Thuế thu nhập là công cụ bình ổn có mặt hầu hết ở các nền kinh tế thị trường.
Cơ chế hoạt động của nó rất linh hoạt và tự động. Cụ thể, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, thu nhập từ cá nhân và doanh nghiệp giảm nên thu nhập từ thuế cũng giảm. Chính vì khoản thuế phải nộp giảm đi nên nó cũng góp phần vào việc hạn chế sự suy giảm của chi tiêu trong nền kinh tế. Đây được xem là hiệu ứng kìm hãm đà giảm của tổng cầu.
Ngược lại, khi nền kinh tế trong thời kì lạm phát, việc tăng thuế thu nhập giúp kìm hãm đã tăng của tổng cầu theo cùng cơ chế. Khi nói về thuế thu nhập thì thuế lũy tiến là hình thức bình ổn tự động hiệu quả nhất vì thuế suất của nó giảm trong thời kỳ suy thoái và tăng torng thời kỳ lạm phát. Trong khi đó thì, thuế lũy thoái là công cụ bình ổn kém hiệu quả nhất.3 Thâm hụt ngân sách và nợ công Chính sách tài khóa và việc điều tiết ngân sách nhà nước có quan hệ mật thiết với nhau. Trên thực tế, chính phủ có thể giải quyết bài toán thâm hụt ngân sách bằng 2 phương thức chính là sử dụng chính sách tiền tệ hóa hoặc vay nợ.
Tuy nhiên, đã có rất nhiều bài viết chỉ ra những rủi ro lớn trong nền kinh tế khi sử dụng tiền tệ hóa để thanh toán các khoản thâm hụt ngân sách như lạm phát và cơ chế tỷ giá sẽ bị ảnh hưởng sâu sắc. Chính vì vậy mà hình thức vay nợ là hình thức mà chính phủ dùng để bù đắp các khoản thâm hụt ngân sách. Thường thì nợ công hàng năm tăng đúng bằng mức thâm hụt ngân sách của năm đó. Một định nghĩa khác, nợ công là tổng các mức thâm hụt ngân sách cộng dồn.
Một khi nợ công quá lớn thì chi phí lãi vay sẽ 123doc 8 trở thành khoản chi tiêu chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu chính phủ và ngân sách nhà nước. Hậu quả là việc sử dụng chính sách tài khóa của chính phủ sẽ bị hạn chế. Từ chính điều này, một vòng luẩn quẩn được hình thành: Thâm hụt ngân sách Nợ công tăng Chi phí lãi vay tăng Thâm hụt ngân sách. Biện pháp đang được nhiều nước áp dụng để giải quyết vấn đề này là cấm chính phủ chi tiêu vượt ngân sách.
Tuy nhiên, chính việc này lại gây ra khó khăn cho chính phủ trong việc ổn định nền kinh tế và vì vậy dao động trong tăng trưởng kinh tế lại trở lại mức cao. Vì vậy, thâm hụt ngân sách và nợ công được xem là hệ quả không tránh khỏi của chính sách tài khóa.2 Tăng trưởng kinh tế.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một quốc gia hay quy mô sản lượng quốc gia trên đầu người trong một khoảng thời gian nhất định. Và với định nghĩa trên, thì khi lấy chênh lệch giữa quy mô sản lượng của năm nay so với năm trước thì ta có mức tăng trưởng.
Thêm vào đó, việc lấy chênh lệch giữa quy mô sản lượng trên đầu người giữa năm này với năm khác cũng được xem là tăng trưởng nếu mức tăng của quy mô sản lượng cao hơn mức tăng dân số. Qua đây cũng cho thấy vì sao các nước đang phát triển hầu như kiểm soát gia tăng dân số để đảm bảo mức tăng trưởng của quy mô sản lượng trên đầu người phản ánh đúng mức tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.2 Phương pháp đo lường tăng trưởng kinh tế Để đo lường tăng trưởng kinh tế, người ta thường sử dụng các thước đo sau: Tốc độ tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Trong đó GDP là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối được sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhật định thường là 1 năm.