Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay" được thực hiện thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án tiếp cận nghiên cứu từ góc độ khoa học chính trị và công tác xây dựng Đảng, giải quyết yêu cầu lý luận và thực tiễn về phương thức cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tầng lớp trí thức trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

  • Về mặt lịch sử và truyền thống: Trí thức luôn được xác định là vốn quý của dân tộc và thể hiện trình độ trí tuệ quốc gia. Văn bản trích dẫn tư tưởng của Thân Nhân Trung trong bài Văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442): "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn", qua đó khẳng định sự hưng thịnh của đất nước gắn liền với việc trọng dụng nhân tài.
  • Về bối cảnh phát triển: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định kinh tế tri thức phát triển mạnh, con người và tri thức trở thành nhân tố quyết định sự phát triển. Đội ngũ trí thức giữ vai trò trực tiếp trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.
  • Về thực tiễn công tác lãnh đạo: Đảng đã ban hành các chủ trương quan trọng như Nghị quyết số 27-NQ/TW (năm 2008) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và Nghị quyết số 25-NQ/TW (năm 2013) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Tuy nhiên, việc thể chế hóa và cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương còn chậm; chính sách đãi ngộ, sử dụng trí thức còn thiếu tính chiến lược; cơ cấu đội ngũ chưa đồng bộ.
  • Về bối cảnh an ninh tư tưởng: Các thế lực thù địch lợi dụng chiến lược "diễn biến hòa bình" để lôi kéo, tác động vào đội ngũ trí thức nhằm làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Do đó, việc đổi mới tư duy, nội dung và phương thức lãnh đạo đối với công tác vận động trí thức là một yêu cầu cấp bách.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức, luận án đề xuất phương hướng, mục tiêu và hệ thống giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này đến năm 2025.

Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, làm rõ các kết quả nghiên cứu về trí thức và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức;
  2. Nghiên cứu cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức;
  3. Đánh giá thực trạng đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức, chỉ ra nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm;
  4. Xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất các giải pháp tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự đổi mới trong lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về trí thức, công tác vận động trí thức; nghiên cứu sự đổi mới về nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình từ năm 1986 đến nay, trong đó tập trung phân tích sâu giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013; các định hướng và giải pháp được xác định cho giai đoạn đến năm 2025.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn công tác vận động trí thức tại Việt Nam, có tham khảo kinh nghiệm quốc tế có chọn lọc.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành tổng quan có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, phân chia thành các nhóm tư liệu cụ thể:

Nhóm công trình Tác giả và tác phẩm tiêu biểu Hướng tiếp cận và nội dung chính
Sách chuyên khảo trong nước - Phạm Tất Dong (chủ biên, 1995; cùng công trình về định hướng phát triển trí thức trong CNH, HĐH)
- Đỗ Mười (1995)
- Nguyễn Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch
- Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền
- Nguyễn Thanh Tuấn
- Nguyễn Đắc Hưng
- Nguyễn An Hà
- Bùi Thị Ngọc Lan
Phân tích quan niệm hiện đại về trí thức; xem sản phẩm trí tuệ là hàng hóa đặc biệt trong kinh tế thị trường; tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức; cơ cấu xã hội, đặc điểm trí thức người Việt ở nước ngoài và giải pháp phát huy nguồn lực trí tuệ.
Luận án, luận văn - Phan Thanh Khôi
- Nguyễn Xuân Phương
- Lương Quang Hiển
- Trịnh Quang Cảnh
- Nguyễn Thị Giáng Hương
- Lương Công Lý
- Nguyễn Thắng Lợi
- Trương Văn Tuấn
- Đặng Thị Minh Phượng
- Nguyễn Công Trí
- Trần Văn Thành
- Hoàng Thị Thuận
Khảo sát động lực lao động sáng tạo; vai trò trí thức tại các địa phương (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh); trí thức dân tộc thiểu số, nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; lịch sử Đảng vận động trí thức qua các giai đoạn (1930-1945, 1991-2005); trí thức trong nền kinh tế tri thức.
Đề tài khoa học các cấp - Nguyễn Đình Tứ (1996)
- Đàm Đức Vượng (Chủ nhiệm đề tài KX.04/06-10)
- Ngô Huy Tiếp (Chủ nhiệm đề tài cấp Bộ)
- Trần Khắc Việt (Chủ nhiệm đề tài KX.04-02/11/15)
Tổng kết thực trạng đội ngũ trí thức qua các giai đoạn đổi mới; cơ sở lý luận và thực tiễn về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Bài báo tạp chí chuyên ngành - Vũ Khiêu
- Nguyễn Duy Quý
- Trương Tấn Sang
- Nguyễn Đức Bách
- Nguyễn Văn Khánh
- Phùng Hữu Phú
- Trường Lưu
- Hoàng Tụy
- Hà Thị Khiết
- Lê Hữu Nghĩa
- Lưu Văn An
- Nhị Lê
- Trần Ngọc Đường
- Nguyễn Thế Trung
Phân tích cơ cấu giai tầng trí thức; chính sách đãi ngộ nhân tài; thực tiễn công tác dân vận; đổi mới phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.
Tài liệu và công trình quốc tế - Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diện (Trung Quốc)
- Vương Huy Diệu (Trung Quốc)
- CAST & Dương Tú Cầm (Trung Quốc)
- Vladimir A. Mau, N. (Nga)
- Okuhina Yasuhiro (Nhật Bản)
- Lý Quang Diệu (Singapore)
- In pon nhôt xa vông, Khăm Phăn Vông Pha Chăn (Lào)
Nghiên cứu tư tưởng Đặng Tiểu Bình về nhân tài; chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; kinh nghiệm của Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc (CAST); chính sách công chức và dùng người của Nhật Bản, Singapore; thực trạng trí thức và đào tạo cán bộ tại Lào.

Giá trị tham khảo và khoảng trống nghiên cứu

  • Giá trị kế thừa: Các công trình đi trước đã xác lập cơ sở phương pháp luận tiếp cận trí thức như một nhóm xã hội - nghề nghiệp đặc thù dựa trên tính chất lao động trí óc sáng tạo; làm rõ vai trò của trí thức trong lịch sử cách mạng và trong thời kỳ đổi mới; cung cấp dữ liệu đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức ở các ngành, địa phương.
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trước đây tiếp cận trí thức dưới góc độ xã hội học, triết học, lịch sử hoặc nghiên cứu xây dựng đội ngũ trí thức nói chung. Nhiều công trình công bố đã lâu, số liệu chưa được cập nhật theo bối cảnh mới. Chưa có công trình nào trực tiếp giải quyết vấn đề đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức dưới góc độ chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước một cách đồng bộ từ lý luận, thực trạng đến hệ thống giải pháp cụ thể đến năm 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận và khung khái niệm

  • Hệ tư tưởng nền tảng: Luận án dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức, công tác dân vận và xây dựng Đảng.
  • Khái niệm "Trí thức": Xuất phát từ gốc Latinh Intelligentia và Intelligens (chỉ sự hiểu biết, trí tuệ), luận án tổng hợp quan điểm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và định nghĩa chính thức trong Nghị quyết số 27-NQ/TW (2008): Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội. Tiêu chuẩn đánh giá trí thức không chỉ dừng lại ở bằng cấp mà cốt lõi là tính chất lao động sáng tạo khoa học cùng phẩm chất đức và tài.
  • Khái niệm "Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức": Toàn bộ hoạt động của Đảng từ việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách vận động trí thức nhằm đoàn kết tập hợp, xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • Khái niệm "Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức": Toàn bộ các hoạt động của Đảng làm thay đổi một phần hoặc thay đổi một số nội dung, phương thức lãnh đạo công tác vận động trí thức để công tác này ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, khắc phục sự lạc hậu, trì trệ mà không phủ định sạch trơn các giá trị phù hợp đã có.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử - logic;
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp;
  • Phương pháp thống kê, so sánh;
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn;
  • Phương pháp chuyên gia và điều tra xã hội học.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Tư liệu nghiên cứu gồm các văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương (đặc biệt Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết số 25-NQ/TW), chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; các báo cáo tổng kết thực tiễn của Ban Dân vận Trung ương, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam; số liệu thống kê trong các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước và tài liệu khảo sát kinh nghiệm quốc tế.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến trí thức và sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức:

  • Đánh giá các công trình sách, đề tài khoa học và luận án tiến sĩ trong nước theo từng mảng nội dung: lý luận về trí thức, vai trò của trí thức trong CNH, HĐH, lịch sử công tác vận động trí thức của Đảng qua các thời kỳ, thực trạng trí thức theo vùng miền và giới tính.
  • Tổng thuật các nghiên cứu và tài liệu khảo sát kinh nghiệm quốc tế tại Trung Quốc (mô hình của CAST, chính sách nhân tài của Đặng Tiểu Bình), Nga, Nhật Bản, Singapore và Lào về việc đào tạo, đãi ngộ và sử dụng trí thức.
  • Xác định rõ 5 nhóm giá trị lý luận và thực tiễn mà luận án kế thừa, đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục hoàn thiện về mặt lý luận xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Chương 2: Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức - Những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm sáng tỏ các nội dung lý luận nền tảng chi phối đề tài:

  • Vai trò của đội ngũ trí thức (4 vai trò cơ bản):
    1. Là vốn quý của quốc gia, quyết định sức sáng tạo và trình độ phát triển của đất nước;
    2. Là lực lượng trực tiếp nghiên cứu phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho đường lối, chính sách và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng;
    3. Là chủ thể của cách mạng khoa học - công nghệ, thúc đẩy ứng dụng kỹ thuật và thực hiện chức năng tư vấn, phản biện xã hội;
    4. Là lực lượng quyết định trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
  • Nội dung Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức (6 nội dung):
    1. Xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương về trí thức và vận động trí thức;
    2. Lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật;
    3. Lãnh đạo công tác tuyên truyền, thuyết phục, giáo dục chính trị tư tưởng;
    4. Lãnh đạo xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác vận động trí thức;
    5. Lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức;
    6. Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức hội tập hợp, đoàn kết trí thức.
  • Phương thức Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức (7 phương thức):
    1. Bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết và các định hướng chính sách lớn;
    2. Thông qua công tác tư tưởng;
    3. Thông qua các mặt hoạt động của Nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp);
    4. Bằng công tác tổ chức và cán bộ của Đảng;
    5. Thông qua công tác kiểm tra, giám sát;
    6. Thông qua vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên là trí thức;
    7. Thông qua phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội nghề nghiệp.
  • Nguyên tắc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức (6 nguyên tắc):
    1. Giữ vững mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, cơ cấu hợp lý theo Nghị quyết Trung ương 7 khóa X;
    2. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng;
    3. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước để phát huy tiềm năng trí thức;
    4. Khẳng định tính tất yếu của sự lãnh đạo của Đảng, phê phán các quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo, đồng thời Đảng phải tự đổi mới và lắng nghe phản biện;
    5. Phát huy dân chủ gắn liền với kỷ cương, pháp luật và trách nhiệm công dân trong hoạt động sáng tạo khoa học;
    6. Đoàn kết, tập hợp trí thức trong và ngoài nước trên tinh thần gắn bó với Tổ quốc và phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.

Chương 3: Công tác vận động trí thức và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức - Thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

Chương 3 đi sâu đánh giá thực trạng công tác lãnh đạo vận động trí thức từ năm 1986 đến năm 2013 (trọng tâm giai đoạn 2000-2013):

  • Đánh giá thực trạng đội ngũ trí thức và công tác vận động trí thức: Phân tích sự phát triển về số lượng, cơ cấu chuyên môn, những đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ và giáo dục; chỉ ra các bất cập như sự mất cân đối cơ cấu ngành nghề, vùng miền, hiện tượng chảy máu chất xám và những vướng mắc trong cơ chế quản lý khoa học.
  • Thực trạng đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng: Nêu rõ các bước chuyển biến tích cực trong việc ban hành nghị quyết chuyên đề (như Nghị quyết số 27-NQ/TW), sự chỉ đạo thể chế hóa chính sách pháp luật, việc tạo điều kiện cho trí thức tham gia tư vấn, phản biện xã hội. Đồng thời, chỉ rõ những hạn chế: nhận thức của một số cấp ủy còn xem nhẹ vai trò của trí thức; việc cụ thể hóa chính sách còn chậm; công tác tư tưởng chưa thực sự nhạy bén; cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị còn lúng túng.
  • Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm: Luận giải nguyên nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế, từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền và xây dựng chính sách đối với trí thức.

Chương 4: Những yếu tố tác động, yêu cầu và các giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025

Chương 4 xác định các định hướng và giải pháp cụ thể:

  • Nhân tố tác động và yêu cầu: Phân tích tác động của bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của kinh tế tri thức, sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn và âm mưu chống phá của các thế lực thù địch; xác định các yêu cầu mới đặt ra đối với sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức.
  • Các nhóm giải pháp chủ yếu:
    1. Tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức và hoàn thiện quan điểm, chủ trương của Đảng đối với trí thức;
    2. Lãnh đạo Nhà nước hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật nhằm bảo đảm môi trường làm việc dân chủ, cơ chế trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức xứng đáng với giá trị lao động trí tuệ;
    3. Đổi mới nội dung và hình thức công tác tư tưởng, tăng cường đối thoại, gặp gỡ, tiếp thu các ý kiến tư vấn, phản biện từ đội ngũ trí thức;
    4. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác vận động trí thức trong hệ thống dân vận và tuyên giáo;
    5. Đổi mới phương thức lãnh đạo đối với các tổ chức hội quần chúng của trí thức, đặc biệt là Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam;
    6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về xây dựng và vận động đội ngũ trí thức.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn khái niệm về trí thức, công tác vận động trí thức; xác định rõ nội hàm, cấu trúc nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
  • Xây dựng hệ thống luận cứ khoa học khẳng định tính tất yếu phải đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức; xác lập 6 nguyên tắc cơ bản định hướng cho quá trình đổi mới này.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đánh giá toàn diện thực trạng công tác vận động trí thức và sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác này trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2013 (trọng tâm 2000-2013), chỉ rõ các mặt làm được, các hạn chế cùng nguyên nhân cụ thể.
  • Đúc rút những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị tham khảo cho công tác xây dựng Đảng và công tác dân vận.
  • Dự báo bối cảnh, xác định mục tiêu, yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức đến năm 2025.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận

  • Luận án tập trung khảo sát phạm vi dữ liệu và thực tiễn công tác lãnh đạo từ năm 1986 đến năm 2013, do đó các diễn biến thực tiễn và chính sách mới phát sinh sau mốc thời gian này chưa được phản ánh trong phạm vi khảo sát thực địa của đề tài.
  • Kinh nghiệm quốc tế được tổng hợp có tính chất tham khảo chọn lọc tại một số quốc gia tiêu biểu (Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, Singapore, Lào), chưa bao quát toàn bộ các mô hình tập hợp trí thức trên thế giới.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả thực thi của các chính sách và giải pháp đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với trí thức trong giai đoạn 2015-2025.
  • Nghiên cứu sâu hơn về phương thức vận động đối với các nhóm trí thức mới hình thành, đặc biệt là trí thức trong các tổ chức khoa học - công nghệ ngoài công lập, doanh nghiệp tư nhân và cộng đồng trí thức người Việt Nam ở nước ngoài trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, Khoa học chính trị, Quản lý công và Xã hội học trong hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố và các cơ sở giáo dục đại học.
  • Đối với công tác lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn phục vụ các cơ quan tham mưu của Đảng (Ban Dân vận Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương), cấp ủy các cấp và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc nghiên cứu, ban hành, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, chính sách liên quan đến xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức.
  • Đối với các tổ chức chính trị - xã hội và hội trí thức: Cung cấp tài liệu tham khảo cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam trong việc đổi mới phương thức tập hợp, phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội của trí thức.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa trí thức dựa trên những tiêu chuẩn cốt lõi nào?

Theo quan điểm của Đảng được luận án viện dẫn (Nghị quyết số 27-NQ/TW), trí thức là người lao động trí óc có trình độ học vấn cao về chuyên môn nhất định, có tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra sản phẩm vật chất và tinh thần có giá trị. Luận án nhấn mạnh tiêu chuẩn cốt lõi là tính chất lao động sáng tạo khoa học thực tế cùng sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất đạo đức và năng lực tài năng, không thuần túy căn cứ vào bằng cấp hình thức.

2. Đảng lãnh đạo công tác vận động trí thức gồm những nội dung cơ bản nào?

Luận án xác định 6 nội dung lãnh đạo cơ bản: (1) Xác định mục tiêu, quan điểm, chủ trương; (2) Lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật; (3) Lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; (4) Lãnh đạo xây dựng tổ chức và cán bộ chuyên trách; (5) Lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ; (6) Lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập hợp, đoàn kết trí thức.

3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức được thực hiện qua các kênh nào?

Phương thức lãnh đạo gồm 7 kênh: (1) Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết; (2) Công tác tư tưởng; (3) Hoạt động của Nhà nước; (4) Công tác tổ chức và cán bộ; (5) Công tác kiểm tra, giám sát; (6) Tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên là trí thức; (7) Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức hội nghề nghiệp.

4. Luận án đã tham khảo kinh nghiệm quản lý và vận động trí thức của những quốc gia nào?

Luận án tham khảo kinh nghiệm từ Trung Quốc (về tư tưởng Đặng Tiểu Bình, chiến lược nhân tài quốc gia, hoạt động của Hiệp hội Khoa học Kỹ thuật Trung Quốc CAST và Ban Thống chiến), Nga (về quan niệm và sứ mệnh tầng lớp trí thức), Nhật Bản (chính sách công chức và dùng người), Singapore (chế độ trọng dụng nhân tài của Lý Quang Diệu) và Lào (thực trạng trí thức và đào tạo cán bộ lãnh đạo).

5. Giai đoạn thời gian trọng tâm trong khảo sát và phạm vi đề xuất giải pháp của luận án là gì?

Luận án khảo sát thực tiễn công tác lãnh đạo từ năm 1986 đến thời điểm nghiên cứu, trong đó tập trung phân tích sâu dữ liệu giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2013, và xây dựng hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2025.


Kết luận

Luận án "Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động trí thức trong giai đoạn hiện nay" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác vận động trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công trình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận từ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nghị quyết của Đảng, đồng thời phân tích thực trạng công tác vận động trí thức giai đoạn 1986 - 2013 để rút ra các bài học kinh nghiệm. Hệ thống giải pháp được luận án đề xuất đến năm 2025 cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo trực tiếp cho việc hoàn thiện nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế.