Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THI ĐUA KHEN THƯỞNG 1. Một số khái niệm 1. Chính sách Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hưởng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo định nghĩa này, mục đích của chính sách công không chỉ là giải quyết các vấn đề công mà còn thúc đẩy xã hội phát triển. Nói cách khác, chính sách công là phương tiện, công cụ để thực hiện các mục tiêu chính trị của một quốc gia. Dựa trên những nghiên cứu về chính sách ở trên, khái niệm chính sách có thể được diễn đạt như sau: Chính sách là kết quả của ý chí chính trị quốc gia, được thể hiện thông qua một loạt các quyết định liên quan, bao gồm định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết các vấn đề công.
trong cộng đồng. Quan niệm trên không chỉ thể hiện đặc điểm là chính sách công do nhà nước xây dựng và tác động trực tiếp đến đối tượng quản lý một cách tương đối ổn định, mà còn phản ánh bản chất của chính sách công với tư cách là công cụ quyết định. Giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội bằng thái độ chính trị của đất nước. Chính sách trước hết phải tồn tại trong thực tế nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Tức là chính sách phải đóng vai trò định hướng hành động hướng tới những mục tiêu cụ thể. Điều kiện tồn tại của chính sách công là vai trò tích cực của hệ thống, thể chế do nhà nước tạo lập và sự nghiêm túc thực hiện, tinh thần tự chủ, sáng tạo của những người tham gia giải quyết các vấn đề chính trị trong một thời gian và không gian nhất định. Đảm bảo rằng các điều kiện để tồn tại được chứng minh bằng nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, khuôn khổ chính trị, luật pháp, văn hóa xã hội và thậm chí cả sự đảm bảo của nhà nước. Thi đua, khen thưởng * Khái niệm thi đua Về mặt lý luận, thi đua được bàn đến từ khá sớm.
Ăngghen là người đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học bản chất và nội dung của vấn đề này. Ông xem xét vấn đề cạnh tranh khi đặt cạnh tranh. Mác, gốc rễ của cạnh tranh là chế độ tư hữu và cạnh tranh trong chế độ xã hội chủ nghĩa dường như là tất yếu. Cạnh tranh phát sinh từ lợi ích tập thể khi sự cạnh tranh giữa mọi người và các tổ chức tìm cách thu được ngày càng nhiều lợi nhuận vì lợi ích của chính họ.
Lợi ích tập thể là tổng hợp lao động và hành động của mỗi cá nhân trong tập thể đó. Kế thừa những tư tưởng, quan điểm của C.Ăngghen, Lênin cho rằng, thi đua là một hình thức hợp tác giữa người với người nhằm phát huy năng lực của con người, phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người, xây dựng chế độ dân chủ trong xã hội mới ra đời trên cơ sở xã hội mới mà tôi tin là như vậy. Quan hệ tương trợ, hợp tác, đoàn kết đồng đẳng, giúp đỡ những người kém phát triển chuyển dần lên trình độ những người tiên tiến, nâng cao trình độ đời sống văn hóa tinh thần của mọi người. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “Thi đua là việc cùng nhau đưa hết khả năng làm ra nhằm thúc đẩy lẫn nhau, đạt được thành tích tốt nhất trong một hoạt động nào đó”[31].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Lênin, một bản chất của chủ nghĩa xã hội vào tình hình nước ta, nâng khái niệm bản chất lên tầm hệ tư tưởng, đường lối chính trị. Hãy coi việc thi đua yêu nước là một biểu hiện của lòng yêu nước Việt Nam. “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất”, Người khẳng định một cách dứt khoát và nói thêm: “Thực ra, việc làm hàng ngày là nền tảng của thi đua. Thí dụ từ trước đến nay, ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở.
Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm sao cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy”[2]. 10 Vì vậy, thi đua là hoạt động có tổ chức, trong đó các cá nhân, tổ chức tự nguyện tham gia, lôi cuốn, động viên các chủ thể, phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần năng động, đổi mới, phấn đấu làm tốt nhiệm vụ của mình. Làm tốt công việc, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thi đua là phương tiện quan trọng để vận động toàn xã hội tham gia thi đua yêu nước, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Các cuộc thi đua thường được tổ chức theo các giai đoạn phát triển của đất nước, đưa ra chủ trương, chính sách về cạnh tranh phù hợp với nhiệm vụ chính trị. Như vậy, cạnh tranh có vai trò quan trọng trong việc động viên, thúc đẩy, thúc đẩy mọi người phát huy tiềm năng của mình để đạt được các mục tiêu chung của quốc gia.
* Khái niệm khen thưởng Theo luật thi đua khen thưởng của Việt Nam có hiệu lực năm 2003 (sửa đổi 2 lần 2005 và 2013), khen thưởng là việc ghi nhận công trạng , biểu dương, tôn vinh và khuyến khích bằng những cách khác nhau vị dụ như lợi ích và vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khen thưởng là hành động của người quản lý hoặc người có thẩm quyền trao cho nhân viên hoặc cán bộ một món quà, một giấy chứng nhận, hay một lời ca ngợi để tôn vinh, khích lệ và động viên họ để tiếp tục phấn đấu và đạt được thành tích trong công việc. Khen thưởng không những góp phần nâng cao tinh thần làm việc của nhân viên mà còn giúp củng cố tình đồng nghiệp và tạo sự đoàn kết trong tổ chức. * Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng Thi đua và khen thưởng có mối quan hệ khăng khít, hai chiều với nhau.
Thi đua là cơ sở của khen thưởng; tổ chức tốt phong trào thi đua thì kết quả khen thưởng cao. Khen thưởng chính xác, kịp thời, đúng người, đúng việc sẽ có tác dụng động viên cho mùa thi đua sau đạt kết quả cao hơn. Do vậy không coi nhẹ khen thưởng trong thi đua, ngược lại không có thi đua thì không có căn cứ đánh giá thành tích khen thưởng. Thi đua và khen thưởng cũng có tính độc lập và không phụ thuộc lẫn nhau.
11 Không phải tất cả các hình thức thi đua đều xuất phát từ khen thưởng. Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào không phải là phần thưởng hay vinh danh mà là hiệu quả công việc. Chính sách thi đua, khen thưởng Chính sách thi đua khen thưởng là phương thức hành động của nhà nước được khẳng định thực hiện hướng đến mục tiêu tổ chức công tác thi đua khen thưởng thông qua nhiều công cụ. Ưu điểm của chính sách thi đua khen thưởng: Thi đua khen thưởng là “công cụ đắc lực” để các cá nhân, tập thể noi gương, phấn đấu, vươn lên trong cơ quan xây dựng một thực thể vững mạnh toàn diện.
Thi đua, khen thưởng tạo ra động lực to lớn để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện trong từng cơ sở, đơn vị hiện có, góp phần hình thành nhân cách cán bộ, xây dựng và củng cố tổ chức đảng, đoàn thể và các tổ chức xã hội có quy mô lớn. Những bất cập trong chính sách thi đua khen thưởng ảnh hưởng đến tổ chức đảng. Việc thi đua, khen thưởng trong tổ chức trở thành sự đố kỵ, bắt chước chứ không thành phong trào noi gương trong sáng, lành mạnh vì lợi ích của mỗi cá nhân, tập thể, đơn vị. Một số chạy theo thành tích làm giảm giá trị và hiệu quả của phong trào thi đua.
Lãnh đạo chưa thực sự quan tâm đến công tác thi đua khen thưởng hay thiên vị ưu ái một cá nhân nào đó không xuất sắc vì ý muốn cá nhân đi ngược lại ý muốn của các thành viên khác trong tổ chức có thể dẫn đến sự mất đoàn kết cho tổ chức làm mất động lực của các thành viên khác. Thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng Việc thực hiện các chính sách thi đua và khen thưởng là toàn bộ quá trình biến ý chí của các chủ thể chính trị thành hiện thực giữa các cấp dưới của họ nhằm đạt được những mục tiêu nhất định và tăng lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Thực thi chính sách là trung tâm liên kết từng bước của chu trình chính sách thành một hệ thống nguyên tắc và quy tắc nhất quán. Thực hiện chính sách là một quá trình phức tạp với nhiều biến số bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và các tổ chức cũng như người viết chính sách có kinh nghiệm có thể thực hiện chính sách một cách hiệu quả bằng cách làm theo các bước cơ bản sau: giúp bạn tìm ra các giải 12 pháp hiệu quả.
Bước 1: Xây dựng nên những kế hoạch từ đó để triển khai thực hiện chính sách thi đua khen thưởng. Bước 2: Phổ biến tuyên truyền chính sách thi đua khen thưởng. Bước 3: phân công phối hợp thực hiện chính sách thi đua khen thưởng Bước 4: Tổ chức, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách thi đua khen thưởng. Bước 5: Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm chính sách thi đua khen thưởng.
Quy trình thực hiện chính sách thi đua khen thưởng 1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thi đua, khen thưởng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách thi đua khen thưởng là quá trình lập kế hoạch triển khai thực hiện chính sách này từ Trung ương đến địa phương. Việc lập kế hoạch này phải được thực hiện trước khi chính sách được thực thi. Kế hoạch này bao gồm các nội dung chính như tổ chức, vận hành, kế hoạch thu nhận nguồn lực, thời gian thực hiện, kiểm toán và yêu cầu thực thi chính sách cũng như dự kiến các quy chế, quy định cho việc thực thi chính sách, tổ chức và quản lý.