Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về kiểm soát thủ tục hành chính. Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính tại Sở Y tế tỉnh Bình Dương. Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác KSTTHC từ thực tiễn Sở Y tế tỉnh Bình Dương.
11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Khái quát chung về kiểm soát thủ tục hành chính 1. Khái niệm về thủ tục hành chính và kiểm soát thủ tục hành chính 1. Khái niệm thủ tục hành chính Khái niệm TTHC liên quan đến một khái niệm rộng hơn, đó là khái niệm thủ tục.
Theo đó, “thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức” [35, tr.1535]; “thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định, theo quy định của cơ quan nhà nước” [20, tr.927]; “thủ tục là các trình tự và phương pháp làm việc” [1, tr.441]; hoặc “ thủ tục là cách thức đã định để thực hiện một hoạt động” [32, 274]. Từ những quan niệm trên, có thể thấy ở góc độ chung nhất, thủ tục bao gồm hai yếu tố cơ bản là trình tự và cách thức, trong đó trình tự xác định quy trình, tức là trật tự các bước, các giai đoạn tiến hành công việc; cách thức xác định các phương pháp tiến hành công việc, gắn với những công việc cụ thể. Trên cơ sở cách hiểu đối với khái niệm thủ tục có thể giúp làm rõ nội hàm của khái niệm TTHC. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm TTHC hiện vẫn chưa được quan niệm một cách thống nhất.
Theo đó, “TTHC là cách thức và trình tự do luật hành chính điều chỉnh về việc tiến hành các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý nhà nước nhằm đạt tới những kết quả nhất định đã được dự liệu trong pháp luật” [22, tr. Quan điểm này xem TTHC là phương pháp điều chỉnh của luật hành chính đối với các hoạt động của cơ quan hành chính trong quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo những mục tiêu quản lý đã được xác định; “TTHC là trình tự, cách thức do pháp luật hành chính quy định, để các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động của mình trong phạm vi và lĩnh vực quản lý hành chính, nhằm mục đích thực hiện các quy phạm 12 vật chất do pháp luật hành chính và các quy phạm của các ngành luật khác quy định” [16, tr. Với quan niệm này, TTHC được hiểu là các quy phạm thủ tục (hình thức), là một bộ phận cấu thành của pháp luật hành chính. Giữa quy phạm thủ tục và quy phạm vật chất có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy phạm thủ tục được hình thành để thực hiện quy phạm vật chất.
Thủ tục hành chính cũng được hiểu “là trình tự về thời gian, không gian và cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân. Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện các hoạt động cần thiết của mình, trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính” [26, tr.208]; hoặc “TTHC là trình tự và cách thức do quy phạm pháp luật hành chính quy định để các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền hành chính tiến hành các hoạt động nhằm ổn định tổ chức và trật tự quản lý nội bộ hoặc để các chủ thể này tổ chức cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động cụ thể trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, cung cấp các dịch vụ công và thực hiện các giao dịch hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước, phục vụ xã hội và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân” [19, tr. Theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC thì khái niệm TTHC được tiếp cận ở góc độ hẹp, mang tính kỹ thuật và thể hiện rõ hơn mối quan hệ giữa Nhà nước (chủ thể quản lý) với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội (khách thể quản lý). Theo đó, “TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [11, Đ.
Từ định nghĩa trên, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP [11, Đ.8] quy định một TTHC gồm 08 (tám) bộ phận tạo thành bắt buộc: (i) Tên TTHC; (ii) Trình tự thực hiện; (iii) Cách thức thực hiện; (iv) Hồ sơ; (v) Thời hạn giải quyết; (vi) Đối tượng thực hiện TTHC; (vii) Cơ 13 quan thực hiện TTHC; (viii) Kết quả thực hiện TTHC. Ngoài 08 (tám) bộ phận bắt buộc nêu trên còn 03 (ba) bộ phận tạo thành không bắt buộc sau: (i) Yêu cầu, điều kiện; (ii) Mẫu đơn, tờ khai; (iii) Phí, lệ phí. Phù hợp với đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trong luận văn này khái niệm “thủ tục hành chính” được hiểu và tiếp cận theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát TTHC nêu trên. Dưới đây là bảng giải nghĩa về tính chất, đặc điểm của mỗi bộ phận tạo thành TTHC nhằm làm rõ hơn nội hàm của khái niệm phức tạp này: Bảng 1.
Tính chất và đặc điểm của các bộ phận tạo thành TTHC Bộ phận tạo Stt Tính chất, đặc điểm của các bộ phận tạo thành TTHC thành TTHC Là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ phản ánh khái quát nội 1 Tên TTHC dung của thủ tục. Là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện Trình tự thực 2 TTHC trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ hiện chức. Cách thức Là hình thức diễn ra của hành động yêu cầu hoặc đề nghị giải 3 thực hiện quyết TTHC. Là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện TTHC cần phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải 4 Hồ sơ quyết TTHC trước khi cơ quan thực hiện TTHC giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.
Thời hạn giải Là một khoảng thời gian được xác định cụ thể (giờ, ngày, tháng, 5 quyết năm) để giải quyết công việc cho cá nhân, tổ chức. Là các cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu, đề nghị cơ quan hành chính giải quyết công việc cụ thể cho mình hoặc có nghĩa vụ phải thực hiện theo mệnh lệnh của cơ quan có thẩm quyền giải Đối tượng quyết TTHC.3]: (i) Cá nhân là công dân Việt 6 thực hiện Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài; TTHC (ii) Tổ chức là doanh nghiệp, hội, hiệp hội doanh nghiệp, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức khác được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật. Là cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật được Cơ quan thực 7 sử dụng quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước tiến hành xem hiện TTHC xét, giải quyết TTHC. Kết quả thực 8 Là sản phẩm của quá trình giải quyết TTHC.
hiện TTHC 14 Là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện TTHC phải đáp ứng Yêu cầu, điều hoặc phải làm khi thực hiện một TTHC cụ thể, là cơ sở để cơ 9 kiện quan có thẩm quyền giải quyết TTHC xem xét trước khi quyết định giải quyết TTHC. Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công được quy định trong Phí, lệ phí 10 Danh mục phí ban hành kèm theo Luật Phí và Lệ phí 2015. [24] Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải nộp khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước được quy định trong Danh mục lệ phí ban hành kèm theo Luật Phí và Lệ phí 2015. Là văn bản có tính đại diện, được sử dụng thống nhất, trong đó Mẫu đơn, bao gồm các thông tin cơ bản mà các đối tượng thực hiện TTHC 11 mẫu tờ khai phải cung cấp để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết TTHC cho mình.
Như vậy, với cách hiểu trên TTHC mang những đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, về thẩm quyền ban hành và hình thức pháp lý. TTHC phải được quy định trong các VBQPPL do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và được thể hiện dưới hình thức quy phạm TTHC. Thứ hai, về các yếu tố tạo thành TTHC. Các bộ phận tạo thành TTHC là một trong các dấu hiệu quan trọng để nhận biết TTHC, gồm: tên thủ tục; hồ sơ; trình tự; cách thức thực hiện; cơ quan thực hiện; đối tượng thực hiện; kết quả của thủ tục; yêu cầu, điều kiện; mẫu đơn, tờ khai; phí, lệ phí.
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP, một TTHC cụ thể được coi là hoàn thành khi đã được quy định đủ các bộ phận theo quy định. Thứ ba, về chủ thể trong quan hệ giải quyết TTHC, gồm chủ thể giải quyết TTHC và đối tượng tham gia TTHC: Về chủ thể giải quyết TTHC: Chủ thể giải quyết TTHC là cơ quan, người có thẩm quyền được xác định trong các VBQPPL có quy định về TTHC. Đây là các chủ thể bắt buộc trong quan hệ TTHC. Có thể chia các chủ thể giải quyết TTHC thành 2 nhóm sau: 15 (i) Cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; (ii) Các tổ chức, người có thẩm quyền được pháp luật cho phép hoặc được Nhà nước trao quyền nhằm cung cấp một hoặc một số dịch vụ hành chính công.
Về đối tượng tham gia các TTHC: Bao gồm các cá nhân, tổ chức thực hiện TTHC. Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính Theo từ điển tiếng Việt thì kiểm soát được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định; đặt trong phạm vi quyền hành của mình” [33, tr.