Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chính sách việc làm là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Lĩnh vực này luôn được các nhà khoa học, các nhà quản lý và các tổ chức trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Đến nay, vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố. Tình hình nghiên cứu về vấn đề lao động, việc làm Những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề lao động và việc làm trên phạm vi cả nước, có thể kể đến trước hết là các kết quả điều tra về lao động - việc làm do Bộ LĐTB&XH phối hợp với Tổng cục Thống kê thực hiện định kỳ hàng năm.
Các kết quả khảo sát đã cung cấp một hệ thống số liệu, dữ liệu khá đầy đủ và bao quát về hiện trạng lao động, việc làm trong từng giai đoạn cụ thể trên phạm vi quốc gia, từng khu vực và các tỉnh thành trên cả nước. Kết quả khảo sát là nguồn tư liệu quý giá, giúp các nhà khoa học, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu có thể tham khảo, phục vụ cho việc quản lý và xây dựng các kế hoạch, các đề án, các công trình nghiên cứu về các chủ đề liên quan đến lao động, việc làm một cách thuận lợi. Nghiên cứu cùng chủ đề về lao động, việc làm, tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân (2007) với bài viết “Giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập”, tác giả đã trình bày những vấn đề về việc làm, TTLĐ và chỉ ra những hạn chế về chất lượng, sự ổn định, tính bền vững và hiệu quả của việc làm và TTLĐ ở nước ta. Tác giả nhấn mạnh rằng, giải quyết việc làm cần phải thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và phải căn cứ vào tình hình thực tế từng địa phương.
Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2014) có bài viết “Những con số về thất nghiệp và việc làm của Việt Nam: hiện trạng và triển vọng. Nội dung bài viết đã khái quát bối cảnh kinh tế của Việt Nam, chỉ ra những bất cập trong tương quan giữa cơ cấu đào tạo và cơ cấu việc làm, sự phân bố chưa hợp lý giữa việc làm theo nghề và chuyên môn kỹ thuật. Tác giả cho rằng, nhiều lao động không có chuyên môn kỹ thuật hoặc có chuyên môn kỹ thuật nhưng không có chứng chỉ bằng cấp, đang làm những nghề đòi hỏi có chuyên môn kỹ thuật, có nhiều người thuộc nhóm “nhà lãnh đạo” nhưng không có bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn 14 án tiến sĩ 2024 kỹ thuật nào. Trái lại, nhiều lao động có trình độ đại học và trên đại học lại đang làm những nghề yêu cầu chuyên môn kỹ thuật thấp hơn.
Vấn đề này cần phải được giải quyết bằng các chính sách giáo dục và đào tạo trong trường học và trong các doanh nghiệp sử dụng lao động. Nghiên cứu vấn đề việc làm dưới góc độ quản lý, tác giả Nguyễn Thúy Hà (2011) với báo cáo “Chính sách việc làm: thực trạng và giải pháp”. Nội dung bài viết đã nêu rõ vai trò, vị trí và thực trạng vấn đề lao động, việc làm, thu nhập và tình trạng thất nghiệp ở nước ta ở nước ta sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Tác giả Bùi Thị Thanh Hà (2013) với bài viết “Bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận việc làm của người lao động hiện nay”, nội dung bài viết đề cập đến cơ cấu nghề nghiệp, quan hệ lao động, thu nhập và chuyển đổi nghề nghiệp của lao động nước ta.
Qua phân tích các chiều cạnh khác nhau liên quan đến lao động, việc làm, tác giả đã chỉ ra tình trạng bất bình đẳng giữa các cá nhân, nhóm xã hội khi họ tìm kiếm cơ hội việc làm ổn định, bền vững. Nghiên cứu cùng chủ đề còn có tác giả Ian Coxhead với công trình “Lao động và tiếp cận việc làm: Báo cáo thị trường lao động, việc làm và đô thị hoá ở Việt Nam đến năm 2020: Học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế”. Nghiên cứu phân tích mang tính so sánh về các kinh nghiệm quốc tế, rút ra những bài học chủ yếu và kiến nghị các chiến lược và chính sách để Việt Nam đạt được mục tiêu tạo việc làm có hiệu quả và kiểm soát tốt kết quả tăng trưởng. Nội dung công trình đã tổng quan về tốc độ tăng trưởng kinh tế, lao động và đô thị hóa; viễn cảnh khu vực và toàn cầu về phát triển, lao động và đô thị hóa đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm của Việt Nam và so sánh với các nước láng giềng; mô phỏng chính sách về tăng trưởng, dịch chuyển lao động và phúc lợi quốc tế, trên cơ sở đó khuyến nghị về chính sách lao động và đô thị hóa ở Việt Nam đến năm 2020.HCM, vấn đề lao động, việc làm được thể hiện trong các nghiên cứu, báo cáo của các nhà khoa học, nhà quản lý.
Trong đề án “Quản lý mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030”, báo cáo “Thị trường lao động năm 2022 - Dự báo nhu cầu nhân lực năm 2023 tại Thành phố Hồ Chí Minh”, báo cáo “Tình hình lao động việc làm và dự báo nhu cầu nhân lực giai đoạn 2023 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, báo cáo “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về việc làm 15 án tiến sĩ 2024 đối với thanh niên giai đoạn 2020 - 2022”, Sở LĐTB&XH đã chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của TTLĐ TP. Nhìn chung, TTLĐ có sự chuyển biến tích cực sau dịch Covid-19, tuy vậy vẫn còn tồn tại sự mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trường lao động, người thất nghiệp/mất việc làm tồn tại cùng lúc với việc có những doanh nghiệp không tuyển được lao động như mong muốn. Năm 2023, tình hình đảm bảo việc làm cho NLĐ tại các doanh nghiệp chưa có nhiều biến chuyển; công tác đào tạo nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế: (i) cơ cấu đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực; (ii) hiệu quả liên kết nhà trường - doanh nghiệp - xã hội trong đào tạo để đáp ứng nhu cầu thị trường và hội nhập quốc tế về lao động vẫn còn một số bất cập (doanh nghiệp chưa cung cấp nhu cầu nhân lực lao động hàng năm theo quy định nên trên thực tế các cơ sở giáo dục nghề nghiệp vẫn chưa thực sự đào tạo theo sát với nhu cầu của doanh nghiệp; việc phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp chưa phổ biến, chưa có các quy định về hình thành một quỹ đào tạo nghề nghiệp để doành cho chính doanh nghiệp tham gia vào việc đào tạo nhân lực, vừa tăng trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào đào tạo phát triển nhân lực ở các trình độ), (iii) Chương trình đào tạo hiện vẫn chưa được linh hoạt, nội dung chưa phù hợp với nhu cầu và xu thế thị trường lao động khi tiến tới cách mạng công nghiệp 4. Giải quyết tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trường lao động cần có sự can thiệp của chính quyền Thành phố thông qua việc ban hành và triển khai hệ thống CSVL trong thời gian tới.
Tình hình nghiên cứu về chính sách việc làm Những nghiên cứu về chính sách việc làm ngoài nước Những nghiên cứu liên quan đến chính sách việc làm có thể kể đến bài viết Employment Policies: A Methodology Approach to the Identification of Employment Opportunities của tác giả Luis Palma [158]. Nội dung tác phẩm đã trình bày tổng quan một số giải pháp mà các nước châu Âu đã sử dụng để giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp. Vào những năm 90 của thế kỷ XX, trước vấn nạn thất nghiệp trở nên nghiêm trọng, chính sách TTLĐ bị động tỏ ra không hiệu quả trong giải quyết vấn đề này, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng, khả năng cạnh tranh và việc làm, chính sách TTLĐ chủ động được chính phủ các nước sử dụng như một công cụ hữu ích tạo ra việc làm mới, phát triển các hoạt 16 án tiến sĩ 2024 động và nghề nghiệp mới, kích hoạt lại các công việc cũ, phù hợp với nhu cầu mới để giảm tỷ lệ thất nghiệp. Công trình “Employment Policy Implementation Mechanisms: A Synthesis based on Country Studies”, ILO (2014) quan niệm, hoạt động của CSVL được thể hiện trên cả hai phía cung và cầu của TTLĐ.
Về phía cầu, bao gồm các chính sách kinh tế vĩ mô và ngành nhằm tạo việc làm trực tiếp. Các chính sách kinh tế vĩ mô mở rộng giúp tăng cầu lao động bằng cách nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các chính sách ngành thúc đẩy tăng trưởng của các ngành sử dụng nhiều việc làm hơn. Về phía cung, các chính sách liên quan đến giáo dục có thể có tác động cả về số lượng và chất lượng đối với LLLĐ; Các chính sách nhằm nâng cao tỷ lệ nhập học và khuyến khích thanh niên tiếp tục học tập/đào tạo có thể làm giảm nguồn cung lao động trên thị trường; Giáo dục và đào tạo kỹ năng cũng có thể nâng cao chất lượng của LLLĐ và giúp giảm bớt sự mất cân đối giữa cung và cầu lao động; Các chính sách TTLĐ tích cực (đào tạo và đào tạo, dịch vụ việc làm…) đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại những điều chỉnh cần thiết trên TTLĐ và ngăn ngừa thất nghiệp.
Việc tiếp cận xây dựng CSVL phải dựa trên bằng chứng, phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh phát triển quốc gia chứ không phải dựa trên thông lệ “một kích thước phù hợp cho tất cả”. ILO cũng khẳng định, ngày càng có nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng các can thiệp có mục tiêu được thiết kế tốt cho phép các nhóm yếu thế có được chỗ đứng nhất định trên TTLĐ [179]; dịch vụ việc làm và đào tạo kỹ năng có tác động tích cực đến kết quả việc làm và thu nhập; Các chương trình việc làm công có kết quả khác nhau trong trung hạn nhưng hữu ích trong xóa đói giảm nghèo [180]. Trong tác phẩm “Evaluating What Works for Whom in Employment Services”, Thomas Bredgaard (2013) quan niệm CSVL là “một nhóm các chính sách có chọn lọc nhằm vào các tình huống trên TTLĐ được xác định là có vấn đề (sự không phù hợp giữa cung và cầu về lao động, thất nghiệp, thiếu hụt kỹ năng, phân biệt đối xử. Có nhiều cách phân loại về chức năng, khía cạnh và công cụ khác nhau của CSVL, trong đó cách đơn giản và được sử dụng rộng rãi nhất là sự phân biệt giữa CSVL thụ động (bù đắp) và chủ động (can thiệp).