Chương 1 HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN 1. Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 1. Khái niệm hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bắt đầu ở các nước tư bản trong đó đáng chú ý là cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh. Sau đó là hàng loạt các quốc gia, vùng lãnh thổ khác ở mọi châu lục bằng những con đường, mô hình, cách thức khác nhau đều đã hoặc đang thực hiện quá trình này.
Để cung cấp luận cứ xem xét cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa hoá ở Việt Nam, cần tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa: khái niệm, đặc trưng và các giai đoạn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khi nghiên cứu về công nghiệp hóa giai đoạn đầu (cách mạng công nghiệp), một số tác giả quan niệm: đó là quá trình trang bị cho một vùng hay một quốc gia các phương tiện máy móc, kỹ thuật với trọng tâm là công nghiệp cơ khí chế tạo máy. Theo quan niệm này thì nông nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lệ thuộc vào công nghiệp. Những năm 1960 – 1990 một số nước Đông và Đông Nam Á tiến hành quá trình công nghiệp hóa theo chiến lược rút ngắn thành công.
Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của công nghiệp chế tạo, công nghiệp chế biến có trình độ khoa học – công nghệ cao, sử dụng hiệu quả (tiết kiệm) nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng trao đổi thương mại quốc tế là đặc điểm của công nghiệp hóa. Năm 1965 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO) đã đưa ra định nghĩa về công nghiệp hóa như sau: “Công nghiệp hóa là một quá trình trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cũng như phương pháp quản lý tiên tiến cho mọi hoạt động sản xuất, dù là sản xuất vật chất hay dịch 12 z vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đưa đến tốc độ phát triển nhanh và bền vững về giá trị tăng thêm (GDP). Con đường của một nước tùy vào đặc thù về nguồn lao động và tài nguyên của nước đó. Tuy vậy, đối với các nước có dân số đáng kể, cái cầu trung gian thường là từ phát triển công nghiệp chế biến hàng hóahoá tiêu dùng, dùng sức lao động cơ bắp tiến dần lên lao động chuyên môn, rồi lên công nghiệp cao và kinh tế dịch vụ tiên tiến”.
Quan niệm công nghiệp hóa như trên hàm ý đó không phải là không chỉ là quá trình “kỹ thuật”, “công nghệ” và kinh tế thuần túy mà còn là quá trình thay đổi cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế của một quốc gia nào đó, từ đó kéo theo những thay đổi khác của đời sống xã hội như thể chế, văn hóa, lối sống. Tuy nhiên, công nghiệp hóa theo quan niệm trên vẫn chủ yếu đề cập đến mặt vật chất, kỹ thuật, của quá trình phát triển chưa đề cập một cách toàn diện đến mặt chính trị, xã hội sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa. Vì vậy, cần phải bổ sung bằng khái niệm hiện đại hóa từ đó mới đi đến một khái niệm thống nhất công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa. Ở thời kỳ đầu (vào những năm 1950 -1960) nhất là ở phương Tây khá thịnh hành các nhà lý luận đã quan niệm hiện đại hóa là quá trình phát triển theo mô hình của Tây Âu và Bắc Mỹ.
Mô hình ấy trước hết nhấn mạnh đến phương diện phát triển kinh tế, kỹ thuật như là quy luật chung, phổ quát và xem sự phát triển tư bản chủ nghĩa là con đường tất yếu của các nước trên thế giới. Hiện đại hóa như trên cũng được gọi là hiện đại hóa mang tính nội sinh vì hiện đại hóa nảy sinh từ những tiền đề kinh tế, văn hóa, xã hội vốn có của chính những nước đó. Các mô hình hiện đại hóa về sau không xuất phát từ những điều kiện kinh tế văn hóa nội tại của nước đó mà du nhập, vay mượn những yếu tố từ phương Tây, các nhà lý luận gọi là hiện đại hóa xuất phát từ yếu tố ngoại sinh hay mà trường hợp điển hình là hiện đại hóa đuổi đuổi theo. 13 z Khảo cứu lịch sử công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tác giả Lương Việt Hải (Hiện đại hoá xã hội-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001) đưa ra nhận định: các nhà nghiên cứu lý luận hiện đại hóa trong lịch sử tổng kết rằng cả hiện đại hóa phát nguyên và hiện đại hóa đuổi theo đều có cốt lõi là tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ công nghiệp hóa mà biểu hiện rõ nhất của nó là cuộc cách mạng công nghiệp.
Nó được bắt đầu từ sự phân công lao động giản đơn đến công trường thủ công và cơ khí hóa. Mục đích cuối cùng của hiện đại hóa là xây dựng một xã hội giàu mạnh, văn minh, con người được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần. Từ đó, quá trình công nghiệp hóa (XHCN và TBCN) được xem là một dạng căn bản của hiện đại hóa. Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, mặc dù có những hạn chế nhất đinh, nhưng về cơ bản đã thực hiện được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình - xây dựng những cơ sở kỹ thuật, kinh tế cho chủ nghĩa xã hội , tạo cơ sở, nền tảng cho các nước XHCN.
Như vậy, hiện đại hóa có thể được quan niệm là toàn bộ các quá trình, các dạng cải biến, các bước quá độ từ các trình độ kinh tế, xã hội khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới cao hơn dựa trên những thành tựu mới tiên tiến của khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của con người và tiến bộ xã hội. Quan niệm hiện đại hóa như trên không những chỉ ra khả năng mới của các quốc gia trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật có thể xuất phát từ trình độ kinh tế xã hội khác nhau đều có thể tận dụng được những điều kiện của quá trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức tiến thẳng lên trình độ cao mà các nước đang phát triển hướng đến, thông qua đó mà rút ngắn quá trình hiện đại hóa. Thực tế là một số nước ở Đông và Đông Nam Á trong khoảng 30 năm đã tiến hành hiện đại hóa thành công. Vấn đề là ở chỗ hiện đại hóa như thế nào.
Có thể nói lịch sử xã hội loài người chính là xã hội từng 14 z bước hiện đại hoá từ thấp đến cao, từ xã hội lạc hậu lên xã hội tiên tiến, mà biểu hiện rõ nhất của nó là cuộc cách mạng công nghiệp - chuyển hoá xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp hóa. Hiện nay, các nước tiến hành hiện đại hóahoá đi sau phải kết hợp công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa hay công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Vì vậy công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa là một quá trình thống nhất, đặc biệt là đối với những nước chưa qua cách mạng công nghiệp như Việt Nam. Do đó, càng càng cần có sự nhận thức về phản ánh quá trình hiện đại hóa ở những nước chưa qua công nghiệp hóa.
Vì vậy, các nước này cần phải tiến hành lấy công nghiệp hóa theo hướng hiện đại làm nền tảng của quá trình hiện đại hóa tất cả các mặt của đời sống xã hội nói chung. Quan niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa như trên là bước chuyển trong nhận thức lý luận cách mạng của các nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam. Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn Từ quan niệm đã trình bày ở mục 1.1, có thể hình dung hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa. Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp.
Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả 15 z việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả nước nói chung Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam có nhiều nét đặc thù cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm sau đây: Thứ nhất, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất,. của các tác nhân tham gia quá trình.
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn diện quá trình công nghiệp, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước. Ở các nước chậm phát triển, sự đóng góp của nông nghiệp vào GDP là rất lớn. Ở Việt Nam, lao động nông nghiệp chiếm 70% lực lượng lao động xã hội. Nếu như nền kinh tế không có vốn nước ngoài, chiến lược phát triển nông nghiệp ở các nước này trong giai đoạn đầu tất nhiên phải dựa vào tích lũy nông nghiệp.
Hơn nữa, nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân tăng cao mới thấy được vai trò quan trọng của nông nghiệp trong việc tích lũy cho giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế. Do vậy, đối với Việt Nam và các nước chậm phát triển, để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước thì Đảng và Nhà nước phải đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.