mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chƣơng, gồm: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức Chƣơng 2. Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách tinh giản biên chế công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.
8 Luan van CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ CÔNG CHỨC 1. Khái niệm và vai trò của thực hiện chính sách tinh giản biên chế 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm công chức Hiện nay, đại đa số các nƣớc trên thế giới đang thực hiện chế độ công chức đều có chung một nhận thức sau: Công chức là ngƣời làm việc nhà nƣớc, đƣợc bổ nhiệm gánh vác công việc chính phủ giao, không thông qua thủ tục bầu cử; hoặc công chức là khái niệm chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do ngân sách nhà nƣớc trả lƣơng.
Tuy nhiên, do quan điểm tổ chức của nhà nƣớc và của chính phủ giữa các nƣớc không giống nhau nên khái niệm công chức cũng luôn khác nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau. Tại nƣớc ta, khái niệm công chức đƣợc hình thành, phát triển và ngày càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc(HCNN). Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh 9 Luan van đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Nhƣ vậy, Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức phải là ngƣời thỏa mãn cả 03 điều kiện sau: (i) Công dân Việt Nam; (ii) Đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh; (iii) Trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc.
Tuy nhiên, khái niệm công chức trong các văn bản luật hiện hành ở nƣớc ta vẫn có phạm vi, đối tƣợng rộng bao gồm cả công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân. Cách quy định này xem ra chƣa thật hợp lý vì hoạt động của công chức luôn gắn với quyền lực Nhà nƣớc và pháp luật; còn hoạt động của những ngƣời làm việc trong tổ chức chính trị - xã hội về nguyên tắc chung phải chấp hành pháp luật của Nhà nƣớc nhƣng hoạt động của họ lại chủ yếu dựa vào điều lệ, thể chế của các tổ chức đó, dù hoạt động của các tổ chức đó cũng phải tuân thủ pháp luật. Theo phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn này, khái niệm công chức HCNN (gọi tắt là công chức) có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Công chức là những người được Nhà nước tuyển dụng để giao giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan HCNN, được bổ nhiệm vào một ngạch chức danh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Khái niệm biên chế Biên chế, theo Từ điển Tiếng Việt là “sắp xếp lực lƣợng theo một trật tự, tổ chức nhất định” [25] Theo Nghị định số 71/2003/NĐ-CP ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản lý biên chế hành chính sự nghiệp nhà nƣớc thì: Biên chế hành chính là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các tổ chức giúp bộ trưởng, thứ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, 10 Luan van UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hành chính nhà nước được giao”, “biên chế sự nghiệp là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức, hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước về giáo dục và đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và các đơn vị sự nghiệp khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một số dịch vụ công của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, và HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của pháp luật”.
Theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì: “kế hoạch biên chế số lượng người làm việc của đơn vị, được lập ra nhằm bảo đảm khối lượng công việc của tổ chức khoa học công nghệ. Thủ trưởng tổ chức khoa học công nghệ tự quyết định số lượng biên chế căn cứ vào tính chất, khối lượng công việc và nguồn thu của đơn vị tự quyết định hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức theo quy định của nhà nước và giao nhiệm vụ cho viên chức theo hợp đồng”. Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ thì: “Biên chế” đƣợc hiểu gồm: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật [5]. Nhƣ vậy, biên chế trong cơ quan nhà nƣớc đƣợc hiểu là số lƣợng, cơ cấu, vị trí công việc của cán bộ ,công chức, viên chức làm việc trong cơ quan, đơn vị để thực hiện chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao và đƣợc hƣơng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và giao làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thƣờng xuyên hàng năm.
Tóm lại, nội hàm của khái niệm biên chế của các cơ quan nhà nƣớc gồm các điểm sau: là số lƣợng nguời làm việc thƣờng xuyên theo vị trí việc làm 11 Luan van trong cơ quan đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, do cơ quan có thẩm quyền duyệt và giao làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thƣờng xuyên hàng năm của cơ quan. Tinh giản biên chế "Tinh" có ý nghĩa là có chất lƣợng hơn, thuần chất hơn số với vật chất bình thƣờng (chẳng hạn cái phần chất lƣợng nhất của một vật chất đƣợc gọi là tinh túy). "Giản" là giảm bớt, lƣợc bớt, cho nó gọn lại (ví dụ tóm gọn một câu chuyện, một cuốn sách thì gọi là giản lƣợc). Vì vậy "Tinh giản" có thể hiểu là làm cho (cái gì hoặc bộ phận nào đó) gọn lại, ít đi nhƣng chất lƣợng hơn.
Tinh giản, theo Từ điển Tiếng Việt là giảm bớt cho tinh gọn [25] Thông thƣờng, tinh giản biên chế là việc thải hồi hay cho nghỉ việc đối với một số ngƣời đang trong biên chế hay tinh giản biên chế là việc giảm bớt số lƣợng CBCCVC trong các tổ chức nhà nƣớc dẫn đến giảm số lƣợng nhân sự trong toàn hệ thống. Cách hiểu nhƣ vậy chƣa đầy đủ dẫn tới sự nôn nóng giảm cơ học đối với nhân sự trong hệ thống, gây nên sự rối loạn trong tổ chức và tạo ra những tiêu cực làm ảnh hƣởng hoạt động của từng tổ chức cũng nhƣ cả hệ thống. Mục đích của tinh giản biên chế là nhằm tạo ra đƣợc bộ máy công quyền hoạt động hiệu quả trên cơ sở cơ cấu tổ chức tinh gọn với số lƣợng nhân sự phù hợp, đƣợc vận hành một cách khoa học để thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ đã đƣợc xác định. Để thực hiện mục đích này ngoài giảm số lƣợng nhân sự dƣ thừa trong mối quan hệ so sánh với khối lƣợng công việc đảm nhận, còn phải thực hiện các hoạt động khác liên quan đến quản lý tổ chức và nhân sự nhƣ: cơ cấu lại tổ chức, sắp xếp lại nhân sự để phát huy tối đa năng lực của mỗi nhân viên trong tổ chức, áp dụng các phƣơng pháp tổ chức lao động khoa học và công nghệ thông tin trong hoạt động của tổ chức.
Với sự phân tích nhƣ trên, cần phải hiểu tinh giản biên chế là tất cả các hoạt động sử dụng tối ưu nhân sự của các tổ chức nhà nước 12 Luan van trong mối tương quan với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức nhà nước nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế thì: “Tinh giản biên chế” đƣợc hiểu là việc đánh giá, phân loại, đƣa ra khỏi biên chế những ngƣời dôi dƣ, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những ngƣời thuộc diện tinh giản biên chế [5]. Nhƣ vậy, tinh giản biên chế là việc áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết làm cho đội ngũ CBCC chất lƣợng hơn, tinh thông hơn. Mục đích của tinh giản biên chế là làm cho biên chế của cơ quan, đơn vị tổ chức có chất lƣợng tốt hơn, hợp lý hơn.
Mục tiêu của tinh giản biên chế không đơn thuần là giảm về số lƣợng CBCC, giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nƣớc mà mục tiêu chính của tinh giản biên chế là làm cho cơ cấu, chất lƣợng, số lƣợng của đội ngũ CBCC, nhất là chất lƣợng chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ngày một nâng cao, ngày một tốt hơn, hợp lý hơn.