Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho công chức phường. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho công chức phường trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp tạo động lực làm việc cho công chức phường trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC PHƢỜNG 1.
ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC PHƢỜNG 1. Khái niệm công chức và công chức phƣờng Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế. Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước [46].
Theo Từ điển Tiếng Việt, công chức là “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp” [16, tr 207]. Ở Việt Nam, sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký ban hành Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 quy định về Quy chế công chức. Theo Sắc lệnh này, phạm vi công chức rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, không bao gồm người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, các cơ quan tư pháp như Toà án, Viện kiểm sát… Chuyển sang thời kỳ đổi mới, từ năm 1986, trước yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng đã ra đời. Điều 1 Nghị định này quy định, công chức nhà nước là 8 Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước (ngạch được sử dụng chỉ ngành – Ví dụ: Ngạch Hành chính – Chuyên viên… , ngạch Thanh tra – Thanh tra viên.
Từ năm 1992, công việc xây dựng Đề án Pháp lệnh cán bộ, công chức được tiến hành; sau hơn 5 năm soạn thảo, ngày 26/02/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X đã thông qua Pháp lệnh cán bộ, công chức. Ngày 09/03/1998, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh cán bộ, công chức. Đến ngày 13/11/2008, Quốc hộp Khoá XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, thay thế cho Pháp lệnh cán bộ, công chức. Theo đó, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008).
Hay nói khác đi, theo Điều 2 Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức thì công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này. 9 Công chức phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Đặc điểm của công chức và công chức phƣờng Một là, phải là công dân Việt Nam. Ngay trong khái niệm công chức và công chức phường đã khẳng định công chức phải là công dân Việt Nam.
Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam, được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật (Điều 4 Luật Quốc tịch năm 2008). Để nhấn mạnh điều kiện này, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã khẳng định để trở thành công chức và công chức phường, người dự tuyển phải là người có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch Việt Nam phải là quốc tịch duy nhất của người dự tuyển. Hai là, về con đường hình thành. Công chức phường chỉ được hình thành thông qua con đường tuyển dụng, còn công chức nói chung có hai con đường hình thành là thông qua tuyển dụng và bổ nhiệm.
Bổ nhiệm là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật (Khoản 5 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Đối với tuyển dụng, việc tuyển dụng công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước; Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước; Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính 10 trị - xã hội. Các cơ quan này đều tiến hành tuyển dụng công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý (Điều 39 Luật cán bộ, công chức năm 2008).
Việc tuyển dụng công chức cấp xã do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện tổ chức tuyển theo quy định của Chính phủ (Khoản 2 Điều 63 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Có hai hình thức tuyển dụng công chức là thi tuyển và xét tuyển. Để đăng ký dự tuyển công chức nói chung và công chức phường nói riêng, người đó phải có đủ các điều kiện như: Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; Đủ 18 tuổi trở lên; Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ và các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển (Khoản 1 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Khoản 1 Điều 6 Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính Phủ quy định về công chức xã, phường, thị trấn). Bên cạnh các điều kiện đăng ký dự tuyển này, đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự phường và Trưởng Công an phường còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung khác là có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước cũng như các tiêu chuẩn cụ thể theo quy định của pháp luật chuyên ngành (Khoản 2 Điều 3 và Khoản 2 Điều 6 Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính Phủ quy định về công chức xã, phường, thị trấn; Khoản 1 Điều 1 Nghị định 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, ở tổ dân phố).
11 Ngoài ra, người đăng ký dự thi phải không thuộc trường hợp không được đăng ký dự tuyển như: Không cư trú tại Việt Nam; Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục (Khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó, người dự tuyển phải trải qua kỳ thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật để trở thành công chức. Theo đó, đối với những người thỏa mãn các điều kiện dự tuyển và cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển (Khoản 2 Điều 37 và Khoản 2 Điều 63 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Ba là, về tính chất công việc.
Công chức là người làm việc thường xuyên và có tính chuyên môn, nghiệp vụ rõ rệt. Tính thường xuyên thể hiện ở việc công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kì và chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Điểm a Khoản 1 Điều 73 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014). Tính thường xuyên này cũng được thể hiện ở công chức cấp xã. Tính chuyên môn, nghiệp vụ được thể hiện ở việc công chức được xếp vào một ngạch.
Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức (Khoản 4 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức năm 2008). Ngạch công chức bao gồm: Chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; chuyên viên chính hoặc tương đương; chuyên viên hoặc tương đương; cán sự hoặc tương đương và nhân viên (Khoản 1 Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008).