Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh", chuyên ngành Chính sách công (mã số: 9 34 04 02), do nghiên cứu sinh Trần Nguyên Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Duy Lợi tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2023).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Cải cách hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và phục vụ nhân dân là nhiệm vụ trọng tâm tại Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ như Quyết định số 227/QĐ-HĐBT (1987), Nghị định số 132/2007/NĐ-CP (2007), Nghị quyết số 39-NQ/TW (2015) của Bộ Chính trị, Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP, Nghị định số 143/2020/NĐ-CP và Nghị định số 29/2023/NĐ-CP. Quan điểm này được tái khẳng định tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Tuy nhiên, việc thực thi chính sách tinh giản biên chế bộc lộ nhiều hạn chế:

  1. Tinh giản biên chế chủ yếu mang tính cơ học, thụ động, chưa đạt mục tiêu sàng lọc và đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) không đủ năng lực, chưa gắn liền với việc cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ.
  2. Quá trình tổ chức thực thi còn bất cập trong nhận thức, xây dựng kế hoạch thiếu chủ động, phân công phối hợp chưa rõ ràng, kiểm tra giám sát chưa thường xuyên.
  3. Xuất hiện nghịch lý: kết quả tinh giản chưa đạt mục tiêu sàng lọc đối tượng yếu kém nhưng hiện tượng nhân lực chất lượng cao trong biên chế rời bỏ khu vực công lại có chiều hướng gia tăng.
  4. Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, chiếm khoảng 0,6% diện tích và 8,34% dân số cả nước nhưng đóng góp hơn 20,5% GDP, đồng thời là địa phương đầu tiên triển khai tổ chức chính quyền đô thị không qua thí điểm. Khối lượng công việc quản lý hành chính rất lớn trong khi biên chế được giao chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tổng thể, chuyên sâu về việc tổ chức thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ của khoa học chính sách công.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm ra các hạn chế trong thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2021; cung cấp căn cứ khoa học và khuyến nghị các giải pháp, đề xuất nhằm thực hiện chính sách tinh giản biên chế tốt hơn cho Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đến năm 2030.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 04 nhiệm vụ cụ thể):
    1. Luận giải, hệ thống hóa lý luận về thực hiện chính sách tinh giản biên chế ở Việt Nam.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra các bất cập, hạn chế và xác định nguyên nhân khách quan, chủ quan.
    3. Khái quát những vấn đề đặt ra trong thời gian tới từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, kinh nghiệm tại một số địa phương và quá trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Việt Nam qua các thời kỳ.
    4. Khuyến nghị một số giải pháp cho Việt Nam và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thực hiện chính sách tinh giản biên chế tốt hơn đến năm 2030.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu:
    • Nhóm câu hỏi về chính sách tinh giản biên chế: Chính sách tinh giản biên chế ở Việt Nam đã có chưa? Nội dung chính sách tinh giản biên chế là gì? Chính sách tinh giản biên chế đã phù hợp chưa? Cần sửa đổi, bổ sung nội dung gì?
    • Nhóm câu hỏi về thực hiện chính sách tinh giản biên chế: Thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Việt Nam có những giai đoạn nào? Việc thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2021 như thế nào, đã đạt mục tiêu chưa? Cần có giải pháp nào cho Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng để thực hiện chính sách tinh giản biên chế tốt hơn đến năm 2030?
  • Giả thuyết nghiên cứu: Chính sách tinh giản biên chế ở Việt Nam đã được triển khai thực hiện nhiều lần, nhưng trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc, hạn chế; tinh giản chủ yếu mang tính cơ học, chưa giải quyết được bài toán tinh lọc CBCCVC và chưa gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Việt Nam và kinh nghiệm thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại một số địa phương.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu sâu giai đoạn 2015 - 2021 (từ khi Nghị định số 108/2014/NĐ-CP có hiệu lực và triển khai Nghị quyết Đại hội XII của Đảng); tóm lược các giai đoạn trước đó và đề xuất giải pháp định hướng đến năm 2030.
    • Về không gian: Thành phố Hồ Chí Minh; tham chiếu kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội và Thành phố Cần Thơ.
    • Giới hạn nội dung: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập cấp Thành phố; không nghiên cứu hệ thống cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ, công chức cấp xã/phường.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm chủ đề chính:

1. Nhóm nghiên cứu về thể chế, pháp luật và sắp xếp tổ chức bộ máy

  • Nguyễn Thị Kim Ngân: Bài viết trên Tạp chí Cộng sản về hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết Trung ương 6 Khóa XII, nêu rõ việc ban hành khoảng 20 đạo luật cụ thể hóa Hiến pháp 2013 và đề xuất tiêu chí đánh giá kết quả thực thi công vụ làm cơ sở xác định đối tượng tinh giản.
  • Nguyễn Ngọc Ánh: Nghiên cứu trên Tạp chí Xây dựng Đảng về chính sách cán bộ thời kỳ mới, nhấn mạnh cải cách tiền lương gắn với tinh giản bộ máy và trả lương theo vị trí việc làm.
  • Nguyễn Văn Đọc: Nghiên cứu kinh nghiệm tỉnh Quảng Ninh trên Tạp chí Cộng sản về nhất thể hóa chức danh lãnh đạo Đảng - chính quyền, chỉ ra khó khăn trong quản lý liên thông biên chế giữa hai khối.
  • Nguyễn Đức Kha: Đánh giá thực tiễn tỉnh Ninh Thuận trên Tạp chí Cộng sản, nêu vướng mắc khi sáp nhập cơ quan do thiếu quy định của Trung ương về con dấu, chức danh kiêm nhiệm và đề nghị sửa đổi Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.
  • Đình Dương: Nghiên cứu trường hợp thành phố Thủ Đức trên Tạp chí Xây dựng Đảng, phân tích áp lực công việc tăng cao khi sáp nhập 03 quận (Quận 2, Quận 9, Thủ Đức) nhưng biên chế phải giảm.

2. Nhóm nghiên cứu về thực trạng và giải pháp tinh giản biên chế

  • PGS.TS Văn Tất Thu: Công trình trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước phân tích nguyên nhân giai đoạn 2007 - 2014 biên chế không giảm mà có xu hướng tăng, nhấn mạnh giải pháp trong công tác cán bộ.
  • Lê Như Thanh (2016): Nghiên cứu trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính.
  • Vũ Thị Nhàn (2017): Luận văn thạc sĩ phân tích thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Ngô Thị Thúy Vân (2019): Luận văn thạc sĩ phân tích thực tiễn tại Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
  • Nguyễn Tri Thức: Khảo sát trên Tạp chí Cộng sản về tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra việc giảm số lượng chưa đi liền với nâng cao chất lượng cán bộ.
  • Nguyễn Minh Tuấn (2019): Bài viết trên Tạp chí Cộng sản xác định việc xác định vị trí việc làm là "nút thắt" cốt lõi của tinh giản biên chế và cải cách tiền lương.
  • TS. Đào Lê Minh (2016): Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở về giải pháp tinh giản biên chế tại Ủy ban Chứng khoán Nhà nước giai đoạn 2015 - 2021.
  • Triệu Tài Vinh (2020): Bài viết trên Tạp chí Xây dựng Đảng phân tích hiện tượng CBCCVC né tránh rủi ro trong "vùng xám" và kiến nghị cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ dám làm, đẩy mạnh tự chủ tài chính.
  • Anh Cao (2023): Tổng hợp ý kiến của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thanh Trà về việc kết quả giai đoạn 2015 - 2021 mới đạt chỉ tiêu cơ học, cần chính sách giữ chân nhân lực chất lượng cao trong khu vực công.
  • Tú Giang (2023): Phân tích thực trạng giảm biên chế chủ yếu rơi vào người nghỉ hưu hoặc người có năng lực chuyển sang khu vực tư, nguyên nhân do công tác đánh giá cán bộ còn nể nang, cảm tính.
  • Đào Hồng Lan: Đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo vị trí việc làm tại tỉnh Bắc Ninh trên Tạp chí Cộng sản.
  • Trần Minh Đức: Phân tích thực trạng quy định pháp luật về đánh giá công chức trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội.

3. Nhóm nghiên cứu về thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

  • Thạch Kim Hiếu (2019): Nghiên cứu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trên Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội.
  • Thành Sáng (2019): Đánh giá chính sách bố trí cán bộ chủ chốt cấp huyện không là người địa phương tại Thành phố Hồ Chí Minh trên Tạp chí Xây dựng Đảng.
  • Trường Hoàng (2019): Báo cáo trên báo Người lao động về kết quả tinh giản 472 trường hợp (2015 - 2016) và 40 đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ chi thường xuyên.
  • Trần Xuân Tình (2020): Nghiên cứu việc tinh giản biên chế kết hợp phân cấp, ủy quyền và sắp xếp đơn vị hành chính theo Đề án chính quyền đô thị.
  • Thái Anh - Hồng Trần (2022): Bài viết trên VnExpress phản ánh tình trạng quá tải công việc, định mức biên chế được giao chỉ bằng khoảng một nửa so với nhu cầu thực tế của Thành phố.

4. Nhóm công trình quốc tế

  • V.I. Lênin: Tác phẩm "Thà ít mà tốt" về nguyên tắc tinh gọn, nâng cao chất lượng bộ máy nhà nước và loại bỏ cán bộ không đủ tiêu chuẩn.
  • David Osborne & Ted Gaebler (1993): Tác phẩm "Reinventing Government" đưa ra 10 nguyên tắc quản trị công mang tinh thần doanh nghiệp, phân quyền, tinh giảm thủ tục rườm rà.
  • Hiroshi Ykawa (2008): Đánh giá 15 năm cải cách phân cấp, tinh gọn bộ máy tại Nhật Bản.
  • Benoit Guerin (2020): Khảo sát biến động quy mô công chức Vương quốc Anh (giảm 19% giai đoạn 2010 - 2016).
  • Pan Suk Kim (2000): Đánh giá cải cách hành chính khu vực công tại Hàn Quốc sau khủng hoảng tài chính 1997.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây tiếp cận vấn đề theo các góc độ riêng lẻ như luật học, hành chính học, hoặc chỉ giới hạn ở phạm vi một ngành, một huyện cụ thể. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quy trình thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại đô thị đặc biệt Thành phố Hồ Chí Minh dưới lăng kính khoa học chính sách công, đặt trong bối cảnh thực hiện tổ chức chính quyền đô thị giai đoạn 2015 - 2021 và định hướng đến năm 2030.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết nền tảng của khoa học chính sách công:

  1. Lý thuyết về đánh giá chính sách: Thực hiện đánh giá trước (dự báo tác động) và đánh giá sau (xem xét kết quả đầu ra, mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tính khả thi, hiệu lực của các giải pháp).
  2. Lý thuyết phân tích thực hiện chính sách công: Phân tích chu trình chuyển hóa chính sách từ văn bản thành hành động thực tế, xác định các nút thắt trong khâu tổ chức thực thi.
  3. Lý thuyết hoạch định chính sách công: Sử dụng để đề xuất khung giải pháp, kiến nghị hoàn thiện thể chế đến năm 2030.

Luận án tiếp thu các quan niệm về chính sách công của Thomas Dye, Guy Peters, Thomas A. Birkland, cùng các học giả trong nước như Nguyễn Hữu Hải, Lê Chi Mai, Đỗ Phú Hải, Triệu Văn Cường, Hồ Việt Hạnh; từ đó xác định chính sách công tại Việt Nam thể hiện ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề chung của xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp lịch sử Đảng.
  • Thu thập dữ liệu thứ cấp (gián tiếp): Rà soát hệ thống văn kiện, nghị quyết của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính; các báo cáo thống kê, tài liệu tổng kết của UBND Thành phố Hồ Chí Minh và các sở ngành (chủ yếu sử dụng trong Chương 1 và Chương 2).
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp (trực tiếp):
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện với các chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo/nguyên lãnh đạo Vụ Địa phương thuộc Cục Hành chính - Quản trị II (Văn phòng Chính phủ), Viện Khoa học xã hội Đông Nam Bộ và các nhà nghiên cứu về chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh (sử dụng trong Chương 4).
    • Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thực hiện từ tháng 4/2023 đến tháng 6/2023 đối với công chức Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội (cơ quan tại TP.HCM), Sở Nội vụ TP.HCM và UBND Quận 10 nhằm củng cố nhận định thực tiễn cho Chương 4.
  • Các phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu:
    • Phân tích kết cấu - chức năng: Phân tích tính hệ thống của tổ chức bộ máy và thẩm quyền quản lý biên chế (sử dụng trong Chương 2, Chương 3).
    • Phân tích lợi ích các bên liên quan: Phân tích thái độ, tâm tư, sự đồng thuận và phản ứng của đối tượng chịu tác động (sử dụng trong Chương 3).
    • Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu kinh tế - xã hội, biến động biên chế, trình độ CBCCVC (sử dụng trong Chương 3).
    • Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu quy mô dân số, kinh tế, số lượng đơn vị hành chính giữa TP.HCM với 04 thành phố trực thuộc Trung ương và các tỉnh lân cận (sử dụng trong Chương 2, Chương 3).
    • Phương pháp dự báo và khái quát hóa: Khái quát bài học thực tiễn và dự báo bối cảnh quản lý công vụ đến năm 2030 (sử dụng trong Chương 3, Chương 4).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tinh giản biên chế và cải cách tổ chức bộ máy; phân loại thành 4 nhóm nghiên cứu chính (thể chế bộ máy, thực trạng tinh giản biên chế tại bộ ngành/địa phương, thực tiễn tại TP.HCM và lý thuyết quản trị công quốc tế). Tác giả đánh giá những thành tựu lý luận đã đạt được, đồng thời xác định rõ khoảng trống khoa học về nghiên cứu thực thi chính sách tinh giản biên chế theo giác độ chính sách công tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 2: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Chương 2 tập trung làm rõ các khái niệm cốt lõi, khung pháp lý và nguyên tắc thực hiện chính sách:

  • Biên chế: Được xác định gồm biên chế cán bộ, công chức, số lượng người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định pháp luật.
  • Tinh giản biên chế: Việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người không đáp ứng yêu cầu công việc, không đủ phẩm chất, dôi dư nhưng không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác, nhằm nâng cao chất lượng biên chế và tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy.
  • Chính sách tinh giản biên chế: Tập hợp các quyết định có mối liên hệ với nhau của Nhà nước theo chủ trương của Đảng nhằm tổ chức, sắp xếp lại và cắt giảm số lượng CBCCVC kém chất lượng, dôi dư.

Chương này xây dựng bảng đối sánh chi tiết giữa hình thức Biên chế và Hợp đồng lao động:

Tiêu chí Biên chế Hợp đồng lao động
Vị trí công việc Lâu dài hoặc vô thời hạn trong cơ quan nhà nước, được Quốc hội, Chính phủ hoặc HĐND các cấp phê duyệt trong quy hoạch số lượng chức danh. Có thời hạn hoặc không xác định thời hạn theo thỏa thuận. Hết hạn hợp đồng không được ký tiếp thì người lao động phải tìm việc mới.
Chủ thể sử dụng Đại diện cơ quan nhà nước được phân cấp, ủy quyền theo quy định của pháp luật. Không bắt buộc phải là đại diện của cơ quan nhà nước.
Quản lý, điều chỉnh Làm việc dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; chịu sự điều chỉnh của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức. Chịu sự quản lý, giám sát của người sử dụng lao động; chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động.
Chế độ đãi ngộ Hưởng lương và chế độ đãi ngộ từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn thu sự nghiệp công lập theo ngạch, bậc quy định. Hưởng chế độ đãi ngộ theo hợp đồng lao động đã ký kết giữa hai bên; các chế độ khác không mang tính bắt buộc của khu vực công.
Mức độ ổn định lâu dài Ổn định lâu dài, ít bị sa thải (chỉ tinh giản theo quy định). Từ ngày 01/7/2020, viên chức chỉ còn 03 trường hợp được ký hợp đồng không xác định thời hạn. Phụ thuộc vào thỏa thuận và người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp luật định.

Chương 2 cũng hệ thống hóa:

  • 05 nguyên tắc thực hiện tinh giản biên chế: (1) Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của MTTQ, nhân dân; (2) Gắn tinh giản với sắp xếp bộ máy và vị trí việc làm; (3) Bảo đảm tập trung dân chủ, công khai, minh bạch; (4) Chi trả chế độ kịp thời, đúng luật; (5) Người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả.
  • 03 nhóm nội dung chính sách: Rà soát sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn; Xây dựng cơ cấu đội ngũ CBCCVC theo ngạch/chức danh; Nâng cao hiệu lực quản lý và chất lượng biên chế.
  • 04 chế độ chính sách tinh giản: Nghỉ hưu trước tuổi; Chuyển sang làm việc tại tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách; Thôi giữ chức vụ lãnh đạo/chuyển vị trí có phụ cấp thấp hơn; Thôi việc ngay.

Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương này đi sâu phân tích bối cảnh đặc thù và kết quả thực thi tại TP.HCM:

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội: Phân tích quy mô kinh tế giai đoạn 2016 - 2022, cơ cấu dân số, số lượng đơn vị hành chính cấp huyện/xã (đặc biệt là 05 huyện ngoại thành và thành phố Thủ Đức), cùng các bảng số liệu so sánh chỉ tiêu phát triển giữa TP.HCM với Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.
  • Tổ chức thực hiện: Phân tích công tác chỉ đạo, ban hành kế hoạch triển khai, phân công phối hợp giữa Sở Nội vụ với các sở, ban, ngành và UBND quận, huyện; cơ chế phân cấp ủy quyền.
  • Kết quả đạt được: Số lượng CBCCVC được tinh giản phân theo các diện chính sách (nghỉ hưu trước tuổi, thôi việc), mức độ chuyển đổi đơn vị sự nghiệp sang tự chủ tài chính chi thường xuyên.
  • Hạn chế và nguyên nhân: Việc tinh giản còn mang tính cơ học, cào bằng chỉ tiêu 10%; thiếu tiêu chí định lượng đánh giá năng lực thực chất; định mức phân bổ biên chế của Trung ương chưa tương xứng với quy mô dân số và đóng góp ngân sách của Thành phố.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp thực hiện chính sách tinh giản biên chế tốt hơn, đến năm 2030

Chương này tổng kết các bài học kinh nghiệm và đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Quán triệt các quan điểm, định hướng chỉ đạo của Đảng về cải cách hành chính và đổi mới phương thức quản trị quốc gia đến năm 2030.
  • Nhận diện các vấn đề đặt ra trong giai đoạn mới: áp lực tinh giản trong mô hình chính quyền đô thị, tình trạng nhân lực y tế/giáo dục dịch chuyển sang khu vực tư nhân, yêu cầu chuyển đổi số.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp:
    1. Hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách quy định về tiêu chuẩn chức danh, mô tả vị trí việc làm.
    2. Đổi mới quy trình đánh giá CBCCVC dựa trên kết quả đầu ra và sản phẩm cụ thể.
    3. Đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập gắn với xã hội hóa dịch vụ công.
    4. Áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù cho TP.HCM trong việc chủ động quyết định số lượng người làm việc phù hợp với quy mô kinh tế - xã hội.
    5. Nâng cao vai trò, trách nhiệm giải trình và chế tài đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Làm rõ hệ thống khái niệm: Luận án chuẩn hóa khái niệm về biên chế, tinh giản biên chế và chính sách tinh giản biên chế dưới góc độ khoa học chính sách công; phân định ranh giới pháp lý và thực tiễn giữa biên chế và hợp đồng lao động trong bối cảnh các luật chuyên ngành sửa đổi.
  2. Khung phân tích thực thi chính sách cấp tỉnh/thành phố: Xây dựng khung đánh giá việc thực thi chính sách tinh giản biên chế tại chính quyền địa phương qua 3 giai đoạn: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực thi và tổng kết đánh giá, kết hợp các tiêu chí về tính phù hợp, tính đồng bộ, tính khả thi và hiệu lực thực tế.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Đánh giá thực trạng tại đô thị đặc biệt: Phân tích toàn diện bức tranh thực hiện tinh giản biên chế tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2021; chỉ rõ mâu thuẫn giữa yêu cầu cắt giảm cơ học biên chế với khối lượng công việc quản lý thực tế tại một siêu đô thị thực hiện mô hình chính quyền đô thị.
  2. Hệ thống giải pháp và kiến nghị: Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm khắc phục tình trạng tinh giản cào bằng, bổ sung cơ chế phân cấp tự chủ biên chế cho Thành phố Hồ Chí Minh và cung cấp luận cứ tham khảo cho việc hoàn thiện chính sách tinh giản biên chế tại Việt Nam định hướng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, luận án tập trung khảo sát cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước và viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập cấp Thành phố; chưa bao quát đối tượng trong hệ thống cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã/phường.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động của Nghị định số 29/2023/NĐ-CP đối với việc tinh giản biên chế cán bộ, công chức cấp xã khi thực hiện sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế tự chủ tài chính toàn diện tại các đơn vị sự nghiệp công lập y tế, giáo dục tại các đô thị loại đặc biệt.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức Trung ương, Sở Nội vụ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quá trình rà soát, xây dựng tiêu chuẩn vị trí việc làm và ban hành chính sách tinh giản biên chế giai đoạn mới.
  • Chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh: Cung cấp cơ sở thực tiễn để kiến nghị Trung ương phân cấp quyền tự chủ về biên chế theo các cơ chế đặc thù phát triển Thành phố.
  • Cơ sở nghiên cứu, đào tạo: Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Luật Hành chính sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về chu trình chính sách công và cải cách hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "biên chế" được luận án định nghĩa cụ thể như thế nào?

Theo luận án, biên chế được hiểu gồm biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng làm việc trong cơ quan nhà nước được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật.

2. Nghị định số 29/2023/NĐ-CP có những điểm bổ sung mới nào so với các nghị định trước đây?

Nghị định số 29/2023/NĐ-CP (thay thế các Nghị định 108/2014/NĐ-CP, 113/2018/NĐ-CP, 143/2020/NĐ-CP) đã bổ sung một số đối tượng tinh giản biên chế; sửa đổi quy định đối tượng chưa tinh giản; bổ sung chính sách về hưu trước tuổi đối với nữ cán bộ, công chức cấp xã; bổ sung chính sách về hưu trước tuổi đối với cán bộ, công chức cấp xã dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã có tuổi thấp hơn tối đa đủ 10 tuổi và thấp hơn tối thiểu trên 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

3. Chính sách tinh giản biên chế quy định những chế độ cụ thể nào cho các đối tượng tinh giản?

Chính sách quy định 04 nhóm chế độ cụ thể gồm: (1) Chính sách về hưu trước tuổi; (2) Chính sách chuyển sang làm việc tại các tổ chức không hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước; (3) Chính sách đối với người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bầu cử, bổ nhiệm vào chức vụ mới có phụ cấp thấp hơn do sắp xếp tổ chức; (4) Chính sách thôi việc ngay.

4. Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những nguồn nào và vào thời gian nào?

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua: (1) Phỏng vấn sâu lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Vụ Địa phương thuộc Cục Hành chính - Quản trị II (Văn phòng Chính phủ), Viện Khoa học xã hội Đông Nam Bộ và các chuyên gia nghiên cứu về chính quyền đô thị; (2) Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi thực hiện từ tháng 4/2023 đến tháng 6/2023 đối với công chức Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Quốc hội (tại TP.HCM), Sở Nội vụ TP.HCM và UBND Quận 10.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thực hiện chính sách tinh giản biên chế từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Trần Nguyên Hồng đã luận giải một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về thực thi chính sách tinh giản biên chế dưới góc độ chuyên ngành Chính sách công. Công trình phân tích sâu sắc các hạn chế, nguyên nhân của việc tinh giản biên chế mang tính cơ học giai đoạn 2015 - 2021 tại một trung tâm kinh tế lớn đang triển khai mô hình chính quyền đô thị. Những giải pháp và khuyến nghị được đề xuất trong luận án mang giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần hoàn thiện thể chế quản lý công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC tại Việt Nam đến năm 2030.