Chương 1, Điều 3 quy định tiêu chuẩn chung của công chức, viên chức cấp huyện, như sau [2]: Có tinh thần yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa huyện hội; có chất lượng tổ chức vận động nhân dân thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, công tâm thạo việc, tận tụy với dân. Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức kỷ luật trong công tác.
15 Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lỗi của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ chất lượng và sức khỏe để làm việc có hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Những viên chức, viên chức công tác tại các nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống phải biết ít nhất tiếng của một dân tộc thiểu số. Tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức, viên chức cơ quan hành chính sự nghiệp trên địa bàn huyện: Căn cứ Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức, viên chức huyện, thành phố, thị xã thì tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức, viên chức trên địa bàn huyện như sau [2]: Tuổi đời: Tuổi đời phù hợp với tình hình đặc điểm của địa phương nhưng tuổi tham gia lần đầu phải đảm bảo làm việc ít nhất hai nhiệm kỳ.
Học vấn: Có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông. Chính trị: Có trình độ trung cấp lý luận chính trị trở lên đối với khu vực đồng bằng; khu vực miền núi phải được bồi dưỡng lý luận chính trị tương đương trình độ sơ cấp trở lên. Chuyên môn, nghiệp vụ: ở khu vực đồng bằng, có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên. Với miền núi phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (tương đương trình độ sơ cấp trở lên), nếu giữ chức vụ lần đầu phải có trình độ trung cấp chuyên môn trở lên.
Ngành chuyên môn phải phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng loại hình đơn vị hành chính huyện, phường, thị trấn. Đã được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế. Tiêu chuẩn công chức, viên chức phản ánh sự thống nhất giữa đòi hỏi khách quan và điều kiện chủ quan, giữa nhu cầu phát triển và điều kiện, khả năng thực tế. Tiêu chuẩn viên chức là một yếu tố cơ bản quyết định chất lượng đội ngũ viên chức cách mạng của chúng ta; là cơ sở nền tảng cho việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ viên chức theo một tiêu chuẩn nhất định đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ mới.
16 Ngoài tiêu chuẩn về trình độ hiểu biết nhất định, người viên chức còn cần phải có tiêu chuẩn khác là phẩm chất và bản lĩnh chính trị. Việc truyền đạt, giải thích và triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước là một việc khó khăn; nhưng khó khăn và phức tạp hơn nhiều là nắm chắc được tình hình, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, cũng như phản ánh được đúng thực chất của tình hình để làm căn cứ cho việc tham mưu, hoạch định chính sách. Công việc này đòi hỏi người viên chức phải đạt tiêu chuẩn ở mức cao hơn để có thể tổng kết thực tiễn, khái quát, nâng lên thành lý luận. Nhiệm vụ của công chức, viên chức trên địa bàn huyện Nhiệm vụ cụ thể của công chức, viên chức trên địa bàn huyện được quy định tại điều 8, Chương 2, Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ [2].
Cụ thể: Trung thành với nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. bảo vệ sự an toàn, danh dự và lợi ích quốc gia; Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thi hành nhiệm vụ, công vụ theo đúng quy định của pháp luật; Tận tụy phục vụ nhân dân, tôn trọng nhân dân; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tham gia sinh hoạt với cộng đồng dân cư nơi cư trú, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; Có nếp sống lành mạnh, trung thực, cần kiệm liêm chính, chí công vỏ tư. không được quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng; Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong công tác; thực hiện nghiêm chỉnh nội quy của cơ quan, tổ chức, giữ gìn và bảo vệ của công, bảo vệ bí mật nhà nước theo quy dinh của pháp luật; Thường xuyên học tập nâng cao trình độ; chủ động, sáng tạo, phối hợp trong công tác nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao; Chấp hành sự điều động, phân công công tác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. 17 Cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo bên cạnh nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình còn phải chịu trách nhiệm vụ việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức thuộc Cán bộ, công chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ được cho là quyết định đó trái pháp luật thì báo cáo ngay với người ra quyết định; trong trường hợp vẫn phải chấp hành quyết định thì phải báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm vc hậu quả của việc thi hành quyết định đó.
Pháp luật về cán bộ, công chức cũng quy định những việc cán bộ công chức không được làm. Có thể coi đây là một dạng nghĩa vụ của cán bộ. công chức, trong đó có những nội dung liên quan đôn mọi cán bộ, công chức và những nội dung chí liên quan đốn một loại cán bộ, công chức phụ thuộc vào vị trí, chức vụ, ngành nghề, tính chất công việc mà họ đảm nhiệm. Những việc cán bộ.
công chức không được làm là: Không được chây lười trong công tác, trốn tránh trách nhiệm hoặc thoái thác nhiệm vụ, không được gây bè phái, mất đoàn kết cục bộ hoặc tự ý bỏ việc. Không được cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khi giải quvết công việc. Không được thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Không được làm tư vấn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh dịch vụ và các tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình và các công việc khác mà việc tư vấn đó có khả năng gây phương hại đến lợi ích quốc gia.
Cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước thì trong thời hạn ít nhất là 5 năm kể từ khi có quyết định hưu trí, thôi việc không được làm việc cho tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài hoặc tổ chức liên doanh với nước ngoài trong phạm vi các công việc liên quan đến ngành, nghề mà trước đây mình đảm nhiệm. 18 Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành. nghề mà người đó trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước. Người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức không được bố trí vợ hoặc chồng, bố.
mẹ, con, anh chị em ruột của mình giữ chức vụ lãnh đạo về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ: làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức hoặc mua bán vật tư, hàng hóa, giao dịch, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức đó. Chất lượng của công chức, viên chức trên địa bàn huyện 1. Khái niệm về chất lượng công chức, viên chức 1. Khái niệm chất lượng nhân lực: Chất lượng hay còn gọi là phẩm chất là một thuật ngữ chỉ mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có của vật chất.
Khái niệm chất lượng có thể áp dụng lêm con người, trong đó đánh giá về đối tượng trong quan hệ sản xuất, lao động còn gọi là “chất lượng nhân lực”. Có rất nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về thuật ngữ “chất lượng nhân lực”. Theo giáo trình “Quản lý Nhân lực” của tác giả Bùi Văn Huệ, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội năm 2006 thì “Chất lượng nhân lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [15,tr. Theo cơ sở dữ liệu của IGI Global tập hợp 26 khái niệm về “chất lượng nhân lực” từ các nguồn khác nhau, trong đó quan niệm của Uỷ ban Châu Âu (2005) như sau: “Chất lượng nhân lực là sự kết hợp của nhiều kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp với một tình huống nào đó” [25, tr.
Theo cách hiểu này, kiến thức, kỹ năng và thái độ là các nội dung thuộc về chất lượng nhân lực và nhằm để kiểm chứng chất lượng của một người, thông qua việc đưa ra một tình huống cụ thể để đánh giá. Cách hiểu như vậy cũng đồng thời giải thích cho thực tế rằng chất lượng có tính chuyên môn hoá theo từng ngành 19 nghề, lĩnh vực hay có thể hiểu có nhiều loại chất lượng khác nhau. Để có kết quả trong thực thế thì cần có những chất lượng cụ thể trong những tình huống cụ thể. Như vậy, chất lượng nhân lực là khả năng thực tế mà con người có được thông qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng một yêu cầu nào đó của công việc được giao phó nhằm giải quyết những nhiệm vụ hay xử lý những tình huống đặt ra trong công tác, trong đời sống hàng ngày.
Chất lượng nhân lực là những khả năng của chủ thể hoạt động được sử dụng để đáp ứng những đòi hỏi của công việc, của đối tượng và khách thể đặt ra. Khi nói đến chất lượng phải nói đến từng con người cụ thể, đó là người đã trưởng thành về mặt huyện hội, là một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách. Tùy thuộc vào nghề nghiệp, vị thế huyện hội, chức trách. của từng cá nhân mà biểu hiện những khả năng khác nhau một cách sinh động, đa dạng, phức tạp.