Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Động lực lao động 1. Khái niệm động lực lao động - Định nghĩa về động lực của các nhà nghiên cứu nước ngoài: Mitchell (1999), động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Bolton, động lực như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu.
Kreitner (1973), động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định. Higgins (1994), động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Bedeian (1993), động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu. - Định nghĩa về động lực của các nhà nghiên cứu trong nước: GS.Hoàng Phê, động lực là cái thúc đẩy, làm cho phát triển [15].Nguyễn Vân Điềm- PGS.
Nguyễn Ngọc Quân, động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó [5]. Phạm Thúy Hương- TS.Phạm Thị Bích Ngọc, động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy mọi nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức [8]. Tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải, động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép, tạo ra năng suất, hiệu quả cao[11, tr. 8 Từ những quan niệm nêu trên, ta định nghĩa động lực làm việc: Động lực làm việc là những nhân tố bên trong xuất phát từ nhu cầu vật chất và tinh thần, kích thích con người tự nguyện và nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để đạt năng suất, hiệu quả cao, hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Như vậy động lực có tác động rất lớn đến việc thực hiện công việc của mỗi cá nhân, thực hiện mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Vì vậy, mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất. Đặc điểm của động lực lao động Từ những quan điểm về động lực lao động ở trên ta nhận thấy được động lực lao động có những đặc điểm như sau: - Động lực lao động được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. - Động lực lao động không phải là đặc điểm tính cách cá nhân mà nó chỉ phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân, nhưng nó có thể thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố khách quan trong công việc.
- Động lực lao động mang tính tự nguyện phụ thuộc chính vào bản thân người lao động. Thông thường người lao động sẽ chủ động và tự nguyện làm việc một cách hăng say với năng suất lao động tốt khi họ không cảm thấy có một sức ép hay áp lực nào trong công việc. - Động lực lao động là yếu tố kích thích để tăng năng suất lao động nhưng không phải là điều kiện để tăng năng suất lao động. Tạo động lực lao động 1.
Khái niệm tạo động lực lao động Để tăng năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động, ngoài các yếu tố về công nghệ, thiết bị, … thì yếu tố động lực lao động có vai trò hết 9 sức quan trọng, vì vậy tạo động lực lao động luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các nhà quản lý. Có nhiều quan điểm về tạo động lực lao động: PGS. Phạm Thúy Hương- TS. Phạm Thị Bích Ngọc, tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc[8].TS Lê Thanh Hà, tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao[10].
Từ các quan điểm nêu trên, ta có thể định nghĩa: Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức. Như vậy, thực chất tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Mục đích của tạo động lực lao động Tạo động lực lao động chính là quản lý con người, sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, phát huy hết năng lực của người lao động từ đó khai thác một cách hiệu quả nguồn lực con người. Thực hiện tốt việc tạo động lực lao động trong tổ chức sẽ giúp nâng cao năng suất và hiệu quả lao động của tổ chức, nâng cao uy tín và thương hiệu của tổ chức, làm cho người lao động gắn bó với tổ chức, đồng thời thu hút được lao động, nhân tài cho tổ chức.
Vai trò của tạo động lực lao động 10 Vai trò của tạo động lực cho người lao động trong một tổ chức được xem xét trên 03 khía cạnh là: Người lao động, tổ chức và xã hội. - Vai trò của tạo động lực đối với bản thân người lao động: Làm cho người lao động có hứng thú trong công việc; Nhằm tái tạo sức lao động cho người lao động; Nâng cao hiệu quả lao động; Giúp nâng cao tinh thần làm việc và trách nhiệm của người lao động. - Vai trò của tạo động lực lao động đối với tổ chức: Giúp tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức; Giúp ổn định hoạt động của tổ chức; Giúp tổ chức có thể thu hút được nhiều nhân tài; Giúp giữ chân nhân tài cho tổ chức; Giúp tổ chức tiết kiệm chi phí; Giúp cải thiện các mối quan hệ trong tổ chức. - Vai trò của tạo động lực đối với xã hội: Khi người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ yêu thích lao động, năng suất lao động của họ sẽ tăng lên, kéo theo là năng suất lao động xã hội cũng tăng lên, từ đó nền kinh tế xã hội sẽ tăng trưởng theo, và khi con người yêu thích lao động thì lúc đó xã hội sẽ phát triển và văn minh hơn.
Động lực làm việc của viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1. Viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1. Khái niệm cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập “Cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm: Trung tâm giáo dục nghề nghiệp; Trường trung cấp; Trường cao đẳng”;“Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất”[18]. Từ các cơ sở pháp lý nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, cung cấp dịch vụ giáo dục nghề nghiệp, phục vụ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp.
Khái niệm viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 11 Viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là viên chức theo pháp luật của Việt Nam nhằm chỉ những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập[17]. Như vậy, ta có thể định nghĩa: Viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Đặc điểm viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập - Viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập có những điểm giống viên chức ở các khu vực khác, đó là đối tượng điều chỉnh của Luật Viên chức năm 2010 số 58/2010/QH12. Ngoài ra, viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập có những đặc điểm khác là: Là đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 số 74/2014/QH13; Công việc của viên chức Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là trực tiếp đào tạo và phục vụ đào tạo nguồn nhân lực lành nghề cho xã hội.
- Tùy theo vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp mà viên chức trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập được chia thành các loại khác nhau như viên chức quản lý và viên chức không quản lý; viên chức giảng dạy và viên chức phục vụ giảng dạy. Mỗi loại viên chức có những tiêu chuẩn, yêu cầu khác nhau phù hợp với vị trí việc làm mà họ đảm nhận, trong phạm vi luận văn này, tác giả phân biệt viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp thành 02 nhóm viên chức cơ bản, đó là viên chức làm công tác giảng dạy, sau đây gọi tắt là viên chức giảng dạy (VCGD) và viên chức làm công tác phục vụ giảng dạy, sau đây gọi tắt là viên chức hành chính (VCHC) và đi sâu nghiên cứu, phân tích về động lực và tạo động lực làm việc đối với 02 nhóm viên chức này. Biểu hiện động lực làm việc của viên chức trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1. Khái niệm động lực làm việc của viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập Trên cơ sở định nghĩa động lực lao động nói chung đã làm rõ ở phần trên, ta có thể hiểu động lực làm việc của viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập: Động lực làm việc của viên chức cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là những nhân tố bên trong xuất phát từ nhu cầu vật chất và tinh thần, kích thích họ tự nguyện và nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để đạt năng suất, hiệu quả cao, hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.