CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP Giới thiệu chương Trong các doanh nghiệp, người lao động đóng vai trò then chốt cho sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp. Vai trò, trách nhiệm của người lao động với doanh nghiệp và ngược lại quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp. Vì vậy, việc phân tích các cơ sở, học thuyết về động lực làm việc; tình hình thực tiễn tại đơn vị nghiên cứu sẽ cho ta cái nhìn bao quát và là cơ sở để đưa ra các đề xuất, kiến nghị phù hợp. Các khái niệm liên quan đến tạo động lực làm việc 1.
Khái niệm về nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu; “Nhu cầu” được nhắc đến là đối tượng nghiên cứu của hầu hết các ngành khoa học nghiên cứu sinh học và xã hội. Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Ví dụ: nhu cầu về thức ăn, thức uống, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, môi trường sống, điều kiện làm việc. [3] Theo định nghĩa của TS.
Bùi Thị Xuân Mai trong “ Bài giảng môn Tâm lý xã hội học lao động: “ Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội…)” [4] Nhu cầu được hiểu là trạng thái tâm lý mà con người mong muốn thỏa mãn về một cái gì đó và mong muốn được đáp ứng nó, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Nhu cầu có thể chia thành 2 nhóm: Nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Nhu cầu vật chất gắn liền với những mong muốn về vật chất để tồn tại và phát triển của con người. Nhu cầu tinh thần gắn liền với sự hài lòng thỏa mãn về tâm lý.
Luan van 9 Ngày nay với xu hướng phát triển của nền kinh tế, việc tìm hiểu đúng nhu cầu của người lao động là một cách tiếp cận hữu hiệu để nhà quản trị có những cách thức phù hợp giúp thỏa mãn nhu cầu của người lao động; tạo môi trường làm việc thuận lợi để người lao động yên tâm làm việc, cống hiến cho doanh nghiệp. Khái niệm về động lực; Có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về động lực: Thuật ngữ động lực được hiểu là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân (Maier và Lawder, 1973); động lực là một quá trình tâm lý mà nó định hướng các hành vi cá nhân theo mục đích nhất định (Kreitner, 1995); động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu (Bedian, 1993); động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng những nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994). Thuật ngữ động lực được hiểu là: Sự thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó [10,tr.181] Trong các tài liệu được xuất bản tại Việt Nam, động lực cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ. Từ góc độ tâm lý học, động lực được hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó.
Theo từ điển tiếng Việt, đó là: Cái thúc đẩy, làm cho phát triển [8, tr. Từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Nhờ có động lực làm việc mà người lao động trong tổ chức có được nỗ lực, sự cam kết và sáng tạo trong công việc để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về động lực khác nhau, nhưng khi nghiên cứu về động lực cần phải thống nhất một số điểm sau đây: Động lực không phải là đặc điểm, tính cách cá nhân.
Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. Luan van 10 Mỗi việc làm của chúng ta đều có mục đích. Trong mỗi hành động lại có những suy nghĩ khác nhau và mức độ đạt được những kết quả cũng khác nhau. Những hành động của chúng ta đều cần có những động lực thúc đẩy.
Từ những khái niệm và cách hiểu khác nhau về động lực, cách hiểu chung nhất là: “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”. Khái niệm động lực làm việc; Cũng giống như khái niệm động lực, thuật ngữ động lực làm việc hay động lực lao động cũng có nhiều cách hiểu khác nhau: “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [5, tr. Theo Trần Kim Dung (2015): “Động lực làm việc là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tang cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó trong công việc” (Trần Kim Dung (2015) " Quản trị nguồn nhân lực", Nhà xuất bản Kinh tế TP.
HCM Theo tác giả Chiristal Batal, “Động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được mục tiêu mong đợi. Từ định nghĩa này, có thể hiểu động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động, vì thế nó có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi con người” [9, tr. Từ các khái niệm trên, hiểu chung nhất, động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc gắn với cá nhân, nằm bên trong cá nhân, do đó, chủ thể quản lý chỉ gia tăng được động lực làm việc của họ khi tác động đúng tới các yếu tố nội tại của người lao động.
Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc. Động lực làm việc chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố khác quyết định đến hiệu quả công việc. Nói cách Luan van 11 khác, hiệu quả công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực làm việc, mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau. Động lực là trạng thái bên trong của con người được biểu hiện qua thái độ, hành vi, sự nhiệt tình và nỗ lực làm việc, hoặc cũng được thể hiện qua ước muốn về nhu cầu về vật chất tinh thần của họ, nó góp phần thúc đẩy nhiều hoặc ít đối với tiến độ và chất lượng các công việc thuộc nhiệm vụ của một tổ chức và trách nhiệm của một cá nhân cụ thể.
Không có động lực chung chung, mà mỗi cá nhân khác nhau, ở vị trí, điều kiện công việc khác nhau thì thái độ, hành vi, mức độ nhiệt tình, hang hái khác nhau và bản thân mỗi người lao động sẽ có nỗ lực làm việc khác nhau. Động lực làm việc chỉ mạng tính tự nguyện. Bản chất của con người là thích chủ động, khi công việc mang lại hứng thú, phù hợp sở thích hoặc khi họ cảm thấy thoải mái thì họ sẽ nỗ lực làm việc hơn. Động lực làm việc có thể thay đổi, vai trò của người quản lý chính là có những cách thức tác động tới người lao động để duy trì động lực làm việc một cách ổn định, bền vững và trong khuân khổ, tăng cường tính tự nguyện của người lao động.
Động lực làm việc không đồng nghĩa với sự hài lòng về công việc. Một cá nhân có thể hài lòng với công việc của mình nhưng vẫn có thể có rất ít động lực để làm việc. Từ những phân tích trên đây, có thể thấy, động lực làm việc được hiểu là: Sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Động lực làm việc luôn gắn liền với mục tiêu của tổ chức.
Khái niệm tạo động lực làm việc; Lao động được hình thành trên cơ sở các cá nhân với các vai trò, vị trí được phân công khác nhau, nhưng do yêu cầu đã được liên kết lại với nhau để phấn đấu cho một mục tiêu nhất định, nhằm đạt được những thành quả đề ra. Hiện nay cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc cho người lao động được trình bày: Theo giáo sư người Mỹ Wiliam J. Rothwell (2015), cho rằng: “Tạo động lực làm việc cho người lao động là bao gồm toàn bộ những biện pháp, thủ tục áp dụng Luan van 12 cho người lao động của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến công việc nào đó”. Nhưng Phan Minh Đức (2018), thì cho rằng “Tạo động lực làm việc cho người lao động là nghệ thuật chọn lựa những lao động mới và sử dụng những lao động cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đạt mức tối đa có thể được”.
Tóm lại, tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các biện pháp tác động tới người lao động nhằm kích thích những mong muốn, khát khao của họ trong công việc góp phần đạt được các mục tiêu của cá nhân và doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, để xây dựng các biện pháp tạo động lực phù hợp cần phải biết người lao động muốn gì (xác định nhu cầu lao động), sau đó xem xét có thể đáp ứng họ ở những nhu cầu gì và ở mức độ nào. Từ đó lựa chọn các chương trình biện pháp tạo động lực phù hợp nhằm hướng mong muốn, nhu cầu cá nhân đi cùng với mục tiêu phát triển doanh nghiệp. Tạo động lực liên quan đến sự khích lệ, nhà quản lý phải làm cho người lao động tự mong muốn làm việc.