Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Việt Hà, với đề tài "Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay", được thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Ngọc Đường. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, mã số 62 38 01 01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo lập luận của tác giả trong phần Mở đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo cách mạng và Nhà nước hơn 80 năm qua, trở thành Đảng cầm quyền từ Cách mạng tháng Tám năm 1945. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ xã hội đã được ghi nhận trong Hiến pháp, tuy nhiên các quy định cụ thể của pháp luật về nội dung và phương thức lãnh đạo chưa được thể hiện một cách rõ ràng.

Từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nền kinh tế và kiến trúc thượng tầng đã có nhiều biến đổi sâu sắc. Yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN) đặt ra đòi hỏi cấp bách phải phân định rành mạch giữa sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền và sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Sự phân định này nhằm bảo đảm Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội.

Ở khía cạnh lập pháp và tổ chức bộ máy, trước năm 1986 Quốc hội chỉ ban hành vài chục đạo luật và pháp lệnh; từ thời kỳ đổi mới đến nay, Quốc hội đã ban hành và sửa đổi hàng trăm văn bản. Đồng thời, nhận thức của Đảng về vị trí của Quốc hội đã có bước chuyển biến: từ chỗ từng có thời điểm coi Quốc hội hoạt động như đoàn thể hoặc như cơ quan hợp thức hóa các chủ trương của Đảng, sang nhận thức Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Nhận thức của Đảng về chính mình cũng chuyển biến từ quyền của Đảng sang quyền đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ trước nhân dân và hệ thống chính trị.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: vấn đề thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung đã có một số tài liệu đề cập, nhưng chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu một cách chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện về việc thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội cũng như phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan này trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay; từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất phương hướng, hệ quan điểm cùng các giải pháp cụ thể nhằm thể chế hoá sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.

Để hoàn thành mục tiêu nêu trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể (được đánh số theo văn bản):

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
  2. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
  3. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, luận án đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thể chế hóa sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng, thể chế hóa sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là mối quan hệ giữa các cơ quan lãnh đạo của Đảng (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng đoàn Quốc hội) và Quốc hội (Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội).
  • Phạm vi thời gian: Luận án giới hạn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của Quốc hội từ năm 1986 đến năm 2013 (thời kỳ đổi mới).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu vào hoạt động lập pháp của Quốc hội (bên cạnh việc xem xét các chức năng quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao trong mối liên hệ bổ trợ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan và phân tích 26 tài liệu khoa học, được phân chia thành hai khối: tài liệu trong nước và tài liệu nước ngoài, phân bố theo 4 nhóm vấn đề chính:

Nhóm tài liệu Công trình / Văn kiện tiêu biểu trích dẫn trong văn bản Nội dung học thuật đã giải quyết
1. Quan điểm chỉ đạo của ĐCSVN - Nghị quyết Hội nghị lần 8 BCHTW khóa VII
- Nghị quyết Hội nghị lần 7 BCHTW khóa VII
- Báo cáo của BCT tại Hội nghị lần 9 BCHTW khóa IX
- Báo cáo của BCHTW khóa IX tại Đại hội X
Xác lập định hướng: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng cương lĩnh, đường lối, nghị quyết; lãnh đạo thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật; bố trí cán bộ và kiểm tra; khắc phục tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo; hoàn thiện vai trò Đảng đoàn Quốc hội và cơ chế đại biểu Quốc hội chuyên trách.
2. Đề tài khoa học cấp nhà nước - Đề tài KX.01 thuộc Chương trình KX.04 (2001-2005) do GS.VS. Nguyễn Duy Quý làm Chủ nhiệm
- Đề tài QX-96.10 do Trần Ngọc Liêu chủ trì (phối hợp TS. Nguyễn Hàm Giá, NCS. Đinh Hữu Phí)
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân; làm rõ vị thế Đảng Cộng sản là chủ thể lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng nằm trong hệ thống chính trị; xác định phương thức lãnh đạo gồm công cụ lãnh đạo cùng hình thức và phương pháp tác động.
3. Công trình chuyên khảo trong nước - TS. Nguyễn Trọng Thúc (2005), Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân
- PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc (2010), Nhà nước cách mạng Việt Nam
- GS.TS. Nguyễn Phú Trọng, PGS.TS. Tô Huy Rứa, PGS.TS. Trần Khắc Việt (đồng chủ biên, 2004), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới
- Hội đồng Lý luận Trung ương (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử
- Nguyễn Khánh (2010), Một số suy nghĩ về mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước và nhân dân
- Sách chuyên khảo (2005), Quốc hội Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Luận giải bản chất đảng cầm quyền, mối quan hệ giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý; khẳng định sự cần thiết phải kiện toàn tổ chức Đảng gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo; chỉ ra tàn dư phương thức lãnh đạo thời chiến; phân tích vị trí đặc thù của Quốc hội vừa mang tính nhà nước vừa mang tính nhân dân; vai trò của Đảng đoàn Quốc hội và các đại biểu là đảng viên.
4. Bài báo khoa học và kỷ yếu - TS. Thang Văn Phúc (2007)
- PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2009)
- Trịnh Xuân Toản (2010)
- GS.TSKH. Đào Trí Úc (2011)
- Đỗ Phú Thọ (2011)
- Bùi Đức Lại (2011)
Bàn luận khái niệm phương thức lãnh đạo; cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; công tác bồi dưỡng đại biểu Quốc hội; chỉ ra hạn chế trong chỉ đạo chuẩn bị dự án luật kéo dài từ 5-15 năm, việc mỗi khóa chỉ hoàn thành 60-70% chương trình lập pháp; yêu cầu đổi mới công tác nhân sự tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội.
5. Tài liệu nghiên cứu nước ngoài (bản dịch tiếng Việt) - TS. Đặng Đình Tân, TS. Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên, 2012)
- Viện Nghiên cứu Trung Quốc (2010)
- Doãn Trung Khanh (2012)
- Trần Quang Minh (2011)
- Lương Văn Kế (2009)
- Dương Văn Quảng (2007)
Khảo cứu thể chế đảng cầm quyền tại Mỹ, Nhật Bản (vai trò của Đảng Dân chủ Tự do - LDP từ biến cố bầu cử năm 1989), Liên bang Nga, Đức, Singapore (cơ chế hoạt động của Đảng Nhân dân Hành động - PAP) và Trung Quốc (thể chế chính trị, lý luận về sự chuyển đổi vai trò và Thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua việc tổng quan 26 tài liệu nói trên, tác giả rút ra nhận xét: Các công trình trong nước chủ yếu nghiên cứu phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước một cách chung chung, chưa phân hóa sâu sắc vào thiết chế Quốc hội; chưa gắn kết hữu cơ giữa nội dung, phương thức lãnh đạo với các đặc trưng của NNPQ XHCN; đặc biệt là chưa nghiên cứu vấn đề thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội một cách thấu đáo và hệ thống. Mặt khác, các tài liệu nước ngoài chỉ cung cấp kinh nghiệm tham khảo về thể chế đảng phái và nghị viện ở các mô hình chính trị khác nhau.

Do đó, luận án lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng việc xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội, đánh giá thực trạng cơ chế này trong giai đoạn từ 1986 đến 2013 và đề xuất giải pháp đổi mới cụ thể, tập trung vào chức năng lập pháp.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

Luận án tiếp cận đề tài dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật. Đồng thời, tác giả khảo cứu và đối chiếu các khái niệm học thuật về thể chế và thể chế hóa:

  • Khái niệm thể chế: Văn bản điểm lại định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (năm 2002) coi thể chế là "những quy định và tổ chức, bao gồm cả chính thức lẫn không chính thức, điều phối hoạt động của con người"; định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt thông dụng (năm 2008) xem thể chế là quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người tuân theo; cùng các quan điểm của GS.TS. Phạm Hồng Thái (hệ thống văn bản QPPL do cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ban hành), Đoàn Trọng Truyền (thể chế hành chính nhà nước gồm luật và văn bản dưới luật), và PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (thể chế tư pháp gồm quy định và bộ máy).
  • Khái niệm thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội: Được tác giả tiếp cận theo nghĩa hẹp, là "quá trình biến những điều chưa có quy định thành có quy định; cụ thể là pháp lý hóa sự lãnh đạo của Đảng hay chính thức hóa bằng các văn bản quy định". Định nghĩa hoàn chỉnh được luận án xác lập: "Thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là việc xây dựng các quy định cụ thể dưới dạng văn bản QPPL hoặc các nội quy, quy chế hoạt động của Đảng và Quốc hội về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội".

Khung phân tích của luận án cấu thành từ ba nội dung thể chế hóa:

  1. Luật hóa sự lãnh đạo của Đảng: Đưa các nội dung, phương thức lãnh đạo, quan điểm, đường lối, cương lĩnh của Đảng vào Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
  2. Quy định nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong Điều lệ Đảng, quy chế hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
  3. Quy định cụ thể nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong các quy chế làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội.

Bên cạnh đó, khung phân tích xác định bốn nguyên tắc thể chế hóa:

  • Bảo đảm cho các chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện trong xã hội;
  • Phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp;
  • Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và các đường lối, quan điểm của Đảng;
  • Bảo đảm Đảng kiểm soát được tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án là công trình nghiên cứu lý luận pháp lý kết hợp phân tích thực tiễn, thuộc khuynh hướng định tính. Tác giả không áp dụng các mô hình định lượng toán học, điều tra xã hội học quy mô mẫu thống kê, phần mềm xử lý số liệu hay các chỉ số kiểm định giả thuyết thống kê ($p$-value). Các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp luận triết học được sử dụng gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Quốc hội trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, gắn với quy luật kiến trúc thượng tầng phải phù hợp với cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Nghiên cứu các chủ trương, nghị quyết của Đảng qua các kỳ Đại hội (VII, VIII, IX, X) và các Hội nghị Trung ương để tổng hợp thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp phân tích, diễn giải và quy nạp: Làm rõ các quy định của Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và hệ thống luật về tổ chức, hoạt động của Quốc hội.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh mô hình thể chế đảng cầm quyền ở một số quốc gia (Trung Quốc, Liên Xô cũ, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Singapore) nhằm rút ra các đặc điểm tương đồng và dị biệt với thể chế chính trị Việt Nam.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Đánh giá tình hình chuẩn bị dự thảo luật, tỷ lệ hoàn thành chương trình xây dựng pháp luật, công tác nhân sự và hoạt động giám sát của Quốc hội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu của luận án gồm: Các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị; các bản Hiến pháp Việt Nam; các Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế hoạt động của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; các báo cáo tổng kết thực tiễn hoạt động lập pháp từ năm 1986 đến 2013; các công trình sách chuyên khảo và bài báo trên các tạp chí chuyên ngành luật học, xây dựng Đảng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá 26 công trình, tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Tác giả chỉ ra rằng các công trình khoa học trong nước tập trung chủ yếu vào nghiên cứu phương thức lãnh đạo chung của Đảng đối với Nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị. Nhiều tác phẩm lý luận lớn đã khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo là nhân tố quyết định bản chất giai cấp của Nhà nước và thành công của công cuộc đổi mới.

Tuy nhiên, các công trình tiền nhiệm chưa đi sâu phân tích mối quan hệ lãnh đạo mang tính đặc thù giữa Đảng và Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Việc thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng mới chỉ dừng lại ở các nhận định mang tính định hướng, chưa được phân tích thành một hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên tắc và giải pháp cụ thể. Về tài liệu nước ngoài, tác giả khảo cứu các ấn phẩm về thể chế đảng cầm quyền ở các nước tư bản (như chế độ đa đảng cạnh tranh ở Mỹ, Đức, Nhật Bản) và các nước xã hội chủ nghĩa hoặc có nét tương đồng (Trung Quốc, Singapore), qua đó xác định rõ đề tài luận án mang tính đặc thù về chính trị - pháp lý của Việt Nam, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cơ sở lý luận và đề xuất các giải pháp khả thi trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.

Chương 2: Cơ sở lý luận của thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi:

  • Khái niệm và đặc trưng: Xác lập khái niệm thể chế hóa theo nghĩa hẹp là pháp lý hóa và chính thức hóa bằng các văn bản quy định. Sự lãnh đạo của Đảng gồm ba thành tố: nội dung lãnh đạo, phương thức lãnh đạo và các điều kiện, cơ chế bảo đảm; trong đó luận án tập trung vào hai thành tố đầu.
  • Những vấn đề đặt ra trong NNPQ XHCN:
    1. Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng phải phát huy tối đa vị trí, vai trò và chức năng của Quốc hội. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp, quyết định chính sách cơ bản và giám sát tối cao. Sự lãnh đạo của Đảng không đặt mình đứng trên hay đứng ngoài Quốc hội, không áp đặt, mà tạo điều kiện để Quốc hội thực quyền. Tác giả nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi tư duy từ "tham luận" sang "tranh luận" trong nghị trường; đề xuất tăng cường tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên ít nhất 50% từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV (2016-2021).
    2. Phân định rõ mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực: Phân định tính độc lập tương đối của Chính phủ, giảm bớt tình trạng "Chính phủ hay lấn át Quốc hội" hoặc "Thủ tướng Chính phủ mang hình bóng Thủ trưởng của Quốc hội", tăng cường quyền chất vấn và cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội. Đồng thời, làm rõ yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị.
    3. Đổi mới phương thức lãnh đạo: Đảng lãnh đạo bằng định hướng đường lối, công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát; từ bỏ thói quen lãnh đạo bằng mệnh lệnh chỉ huy hành chính thời chiến. Nghị quyết của Đảng được nhìn nhận là một nguồn chính trị - tư tưởng của pháp luật; đường lối của Đảng là linh hồn của pháp luật, nhưng phải được thể chế hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung để phát huy sức mạnh quản lý xã hội.

Chương 3: Thực trạng thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

Chương 3 khảo sát thực tế việc thể chế hóa và phương thức lãnh đạo qua các thời kỳ cách mạng (trước 1986 và từ 1986 đến 2013):

  • Về thể chế hóa qua Hiến pháp và pháp luật: Phân tích sự tiến triển từ việc xác lập gián tiếp địa vị cầm quyền qua nguyên thủ quốc gia trong Hiến pháp năm 1946 và 1959, đến việc hiến định trực tiếp vai trò lãnh đạo của Đảng tại Điều 4 Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 ("Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật").
  • Về đưa đường lối của Đảng vào luật, pháp lệnh: Đánh giá hoạt động lập pháp của Quốc hội trong việc cụ thể hóa Cương lĩnh và các Nghị quyết Trung ương thành các đạo luật về kinh tế thị trường, quyền công dân, tổ chức bộ máy. Hầu hết các dự án luật lớn đều có ý kiến chỉ đạo định hướng của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trước khi trình Quốc hội.
  • Hạn chế được chỉ ra:
    • Quy trình thể chế hóa còn chậm; nhiều chủ trương lớn chưa được kịp thời luật hóa.
    • Tình trạng bao biện, làm thay của cấp ủy đảng đối với hoạt động của Quốc hội vẫn còn tồn tại ở một số khâu; ngược lại, có biểu hiện thụ động, ỷ lại của cơ quan nhà nước, việc gì cũng xin ý kiến.
    • Công tác lập pháp còn bị động, thiếu tập trung: tiến độ chuẩn bị dự án luật thường kéo dài (có dự án kéo dài từ 5 đến 15 năm mới trình được Quốc hội); mỗi khóa Quốc hội thường chỉ hoàn thành khoảng 60% – 70% chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã đề ra. Chất lượng một số dự án luật chưa cao, quy định mang tính nguyên tắc chung còn nhiều, đòi hỏi quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.
    • Công tác giới thiệu nhân sự của Đảng để bầu vào Quốc hội và các chức danh cấp cao đôi khi còn mang tính gò ép, chưa tạo điều kiện mở rộng sự lựa chọn dân chủ cho đại biểu Quốc hội.

Chương 4: Các quan điểm, giải pháp thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay

Chương 4 đưa ra hệ thống dự báo, quan điểm và giải pháp:

  • Hệ quan điểm: Thể chế hóa và đổi mới phương thức lãnh đạo phải giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước; tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ; tôn trọng tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động thực quyền của Quốc hội; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện nhưng không bao biện, làm thay.
  • Hệ thống giải pháp thể chế hóa:
    • Hoàn thiện việc luật hóa thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng trong hoạt động lập hiến, lập pháp tại Hiến pháp và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    • Ban hành và hoàn thiện các quy chế phối hợp công tác giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương với Đảng đoàn Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; xác định rõ những vấn đề trọng đại nào Đảng cho ý kiến định hướng, những vấn đề nào giao Quốc hội toàn quyền thảo luận, quyết định.
    • Sửa đổi Quy chế hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhằm minh bạch hóa quy trình tiếp thu ý kiến của Đảng đoàn Quốc hội và lấy ý kiến nhân dân.
  • Hệ thống giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo:
    • Đổi mới phương thức lãnh đạo hoạt động lập pháp: Chuyển trọng tâm từ khâu biểu quyết thông qua sang khâu định hướng chiến lược lập pháp dài hạn; giao quyền chủ động cho các cơ quan của Quốc hội trong việc thẩm tra, phản biện dự án luật.
    • Đổi mới công tác cán bộ: Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, thực hiện lộ trình nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách đạt từ 50% trở lên; đổi mới quy trình giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu Quốc hội và các chức danh lãnh đạo nhà nước theo hướng giới thiệu có số dư để Quốc hội lựa chọn.
    • Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát: Đảng kiểm tra việc thực hiện đường lối thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong Quốc hội; phát huy cơ chế giám sát tối cao của Quốc hội kết hợp với việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:

  1. Về mặt lý luận:

    • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học về "thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội" và "phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội" trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam.
    • Xác lập 4 nguyên tắc cơ bản và 3 nội dung trọng tâm của việc thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
    • Luận giải một cách khoa học mối quan hệ biện chứng giữa việc thể chế hóa và đổi mới phương thức lãnh đạo: thể chế hóa là phương thức và công cụ bảo đảm cho phương thức lãnh đạo của Đảng được thực thi đúng đắn, khắc phục cả hai khuynh hướng lệch lạc là bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo.
  2. Về mặt thực tiễn và giải pháp:

    • Đánh giá một cách toàn diện thực trạng thể chế hóa và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội từ năm 1986 đến 2013, chỉ rõ những bước tiến trong nhận thức và thực tiễn hiến định, đồng thời vạch rõ các hạn chế cụ thể về tiến độ lập pháp, tỷ lệ đại biểu chuyên trách và công tác quy hoạch, giới thiệu nhân sự.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có giá trị ứng dụng thực tiễn, bao gồm: giải pháp hoàn thiện thể chế pháp lý (luật hóa); giải pháp hoàn thiện các quy chế, quy định nội bộ của Đảng và Quốc hội; giải pháp đổi mới công tác cán bộ lập pháp (kiến nghị tỷ lệ đại biểu chuyên trách đạt ít nhất 50% trong nhiệm kỳ 2016-2021); và giải pháp đổi mới phương thức chỉ đạo lập pháp, giám sát tối cao và lấy phiếu tín nhiệm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Phạm vi khảo sát: Luận án tập trung chủ yếu vào chức năng lập pháp của Quốc hội trong mối quan hệ lãnh đạo của Đảng; hai chức năng còn lại là giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia chưa được phân tích sâu ở mức độ tương đương.
  • Dữ liệu nghiên cứu nước ngoài: Do điều kiện tiếp cận tư liệu quốc tế về mô hình đảng cầm quyền mang tính đặc thù xã hội chủ nghĩa, tác giả chủ yếu dựa trên các tài liệu dịch ra tiếng Việt, chưa khai thác trực tiếp các nguồn dữ liệu văn bản pháp luật gốc bằng tiếng nước ngoài.
  • Yếu tố thời điểm: Luận án hoàn thành vào năm 2013, thời điểm Quốc hội đang tiến hành nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nên các phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp gắn liền với khuôn khổ Hiến pháp năm 1992 và chưa phản ánh được đầy đủ những sửa đổi, bổ sung sau khi bản Hiến pháp năm 2013 chính thức được thông qua và có hiệu lực.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục nghiên cứu cơ chế thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật mới về tổ chức bộ máy nhà nước (như Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi).
  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội và việc quyết định các dự án trọng điểm quốc gia.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng chống sự tha hóa quyền lực và cơ chế phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân đối với các quyết sách lập pháp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với các nhóm đối tượng và hoạt động học thuật sau:

  • Cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Tổ chức Trung ương, Đảng đoàn Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể tham khảo luận án trong việc xây dựng các quy chế làm việc, đổi mới quy trình chỉ đạo công tác lập pháp và quy hoạch nhân sự đại biểu Quốc hội.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Khoa học chính trị và Xây dựng Đảng tại các cơ sở đào tạo luật (Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội...) và hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường chính trị tỉnh, thành phố.
  • Các phần nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Khung lý luận về thể chế hóa và 4 nguyên tắc thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội tại Chương 2.
    • Phân tích thực trạng về tiến độ, chất lượng các dự án luật và vai trò của Đảng đoàn Quốc hội tại Chương 3.
    • Hệ thống kiến nghị về tổ chức đại biểu Quốc hội chuyên trách và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan Đảng với Quốc hội tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội" như thế nào?

Theo Chương 2 của luận án, tác giả tiếp cận khái niệm này theo nghĩa hẹp và định nghĩa: "Thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là việc xây dựng các quy định cụ thể dưới dạng văn bản QPPL hoặc các nội quy, quy chế hoạt động của Đảng và Quốc hội về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội". Việc thể chế hóa này bao gồm 3 cấp độ: luật hóa sự lãnh đạo vào Hiến pháp và pháp luật; quy định trong Điều lệ và văn bản của Đảng; và quy định cụ thể trong quy chế làm việc của các thiết chế thuộc Quốc hội.

2. Luận án xác định các nguyên tắc nào cho việc thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội?

Luận án chỉ ra 4 nguyên tắc bắt buộc:

  1. Bảo đảm cho các chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện trong xã hội.
  2. Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp.
  3. Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và các đường lối, quan điểm của Đảng.
  4. Bảo đảm Đảng kiểm soát được tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

3. Vì sao tác giả kiến nghị phải nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách lên ít nhất 50% trong nhiệm kỳ 2016-2021?

Theo phân tích tại Chương 2, do phần lớn đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm nên phải ưu tiên thời gian cho công tác chính tại cơ quan công tác, dẫn đến việc tham gia hoạt động nghị trường dễ dừng lại ở mức độ "tham luận" đơn thuần thay vì "tranh luận", phản biện thấu đáo. Do đó, luận án kiến nghị từ khóa XIV (nhiệm kỳ 2016-2021) cần đạt ít nhất 50% đại biểu chuyên trách và hoạt động theo hướng chuyên nghiệp nhằm bảo đảm tính độc lập, chuyên sâu, chủ động đưa ra sáng kiến lập pháp và nâng cao hiệu quả giám sát.

4. Luận án chỉ ra những bất cập gì trong công tác chỉ đạo chuẩn bị dự án luật của Quốc hội giai đoạn 1986-2013?

Dẫn chứng từ các tư liệu thực tiễn và bài báo khoa học, luận án nêu rõ: Việc chỉ đạo chuẩn bị dự án luật còn thiếu tập trung, chủ yếu giao khoán cho các ban soạn thảo; tiến độ chuẩn bị dự án kéo dài, cá biệt có dự án từ 5 đến 10 năm, thậm chí 10 đến 15 năm vẫn chưa trình được Quốc hội; mỗi khóa chỉ hoàn thành khoảng 60% – 70% chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đề ra; chất lượng một số dự án chưa cao và còn dừng lại ở các nguyên tắc chung, đòi hỏi quá nhiều văn bản hướng dẫn thi hành.

5. Vai trò của Đảng đoàn Quốc hội trong cơ chế lãnh đạo của Đảng được văn bản trình bày ra sao?

Căn cứ các Nghị quyết của Trung ương (đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII) và phân tích của luận án, Đảng đoàn Quốc hội có trách nhiệm lãnh đạo mọi hoạt động của Quốc hội theo đúng đường lối, chính sách của Đảng; truyền đạt cho các đảng viên là đại biểu Quốc hội các quan điểm chỉ đạo của Bộ Chính trị; thuyết phục, vận động các đại biểu Quốc hội ngoài Đảng; và đối với những vấn đề đã có phương hướng của Bộ Chính trị nhưng còn nhiều ý kiến khác nhau, Đảng đoàn Quốc hội có trách nhiệm báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Việt Hà là công trình nghiên cứu chuyên khảo về thể chế hóa sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc phân tích nền tảng lý luận, đối chiếu kinh nghiệm quốc tế và tổng kết thực tiễn hoạt động lập pháp từ năm 1986 đến năm 2013, luận án đã làm rõ yêu cầu khách quan phải luật hóa và quy chế hóa mối quan hệ lãnh đạo này. Các quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất tập trung vào việc đổi mới chỉ đạo lập pháp, tăng cường tỷ lệ đại biểu chuyên trách và hoàn thiện các quy chế phối hợp, góp phần nâng cao hiệu lực thực quyền của Quốc hội đồng thời giữ vững nguyên tắc hiến định về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.