CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ THỐNG KÊ 1. Khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước bằng pháp luật về thống kê 1. Khái niệm Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, việc đưa ra các quyết sách đúng đắn vô cùng quan trọng trong việc phát triển đất nước, thống kê là một lĩnh vực rộng lớn tác động gián tiếp đến mọi đối tượng và tầng lớp xã hội vì thế hiểu rõ, hiểu đúng tầm quan trọng của thống kê để đưa ra các quyết định và giám sát thực thi là vô cùng cần thiêt vì vậy có cũng có nhiều nghiên cứu về khái niệm thống kê như sau: Khoản 1 Điều 3 Luật thống kê 2015 quy định: "Hoạt động thống kê là điều tra, báo cáo, tổng hợp, phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do tổ chức thống kê nhà nước tiến hành". Theo giáo trình nguyên lý thống kê 1 thì “Thống kê là nghiên cứu của tập hợp nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm phân tích, giải thích, trình bày và tổ chức dữ liệu, áp dụng thống kể để nghiên cứu các lĩnh vực khoa học, công nghiệp hoặc các vấn đề xã hội”[24,tr20].
Thống kê rất cần thiết để bắt đầu nghiên cứu một tiến trình nó đề cập tới tất cả các khía cạnh của dữ liệu bao gồm việc lập kế hoạch, thu thập dữ liệu mẫu cho các cuộc khảo sát và thí nghiệm.trong trường hợp không thể thu thập được trong quá trình điều tra tổng thể, thống kê thu thập dữ liệu bằng cách phát triển các mẫu thí nghiệm và mẫu khảo sát cụ thể. Mẫu đại diện cần được đảm bảo rằng những suy luận và kết luận có thể tin cậy được từ đó suy ra toàn bộ tổng thể. Một nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến việc lấy kích thước mẫu, thao tác trên hệ thống và sau đó lấy kích thước mẫu cùng dạng để xác định xem các thao tác đã thay 7 Luan van đổi giá trị của các phép đo. Ngược lại, một quan sát nghiên cứu không liên quan đến việc thực hiện thí nghiệm.TS Ngô Thị Thuận trong giáo trình nguyên lý thống kê lại đưa ra khái niệm thống kê “Tất cả các công việc từ theo dõi diễn biến của các hiện tượng, ghi chép tài liệu - tổng hợp tài liệu ở phạm vi rộng hơn, phân tích rút ra kết luận về bản chất, tính quy luật và đề ra các biện pháp chỉ đạo.
là một quá trình nghiên cứu thống kê”[34,tr6]. Như vậy, thống kê không chỉ là việc cộng dồn đơn thuần các số liệu sẵn có mà là cả một quá trình nghiên cứu theo trình tự nhất định có nội dung, mục đích và phương pháp khoa học để đáp ứng các nhu cầu của xã hội. Thống kê học là hệ thống các phương pháp dùng để thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của hiện tượng kinh tế - xã hội để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể. Như vậy, từ "thống kê' có 2 nghĩa: Nghĩa thông thường là thu thập số liệu; nghĩa rộng là một môn khoa học về bố trí, hoạch định các quan sát và thí nghiệm; thu thập và phân tích các số liệu và rút ra kết luận về các số liệu đã phân tích.
Do đó, thống kê được coi là một công cụ của nghiên cứu khoa học, quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Đây chính là "bộ đồ nghề" của các nhà nghiên cứu và lãnh đạo. Hiện nay khái niệm phổ biến nhất theo từ điển thống kê của TS Nguyễn Bích Lâm Tổng Cục trưởng Cục Thống kê chủ biên mà ngành thống kê đang sử dụng là “Thống kê là một hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số của những hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể, nhằm phản ảnh bản chất và tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải nhờ vào sự hỗ trợ của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ 8 Luan van đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và chịu một sự quản lý nào đó.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, có người cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Người khác lại cho rằng quản lý là sự điều hành, điều khiển, chỉ huy;. Tuy nhiên, quan niệm do các nhà điều khiển học đưa ra là quan niệm được nhiều giới công nhận: Quản lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định.
Quản lý xã hội là một loại hình của quản lý nói chung. Theo quan niệm này thì: Quản lý xã hội là sự tác động có định hướng (chỉ huy, điều hành, hướng dẫn.) lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động và phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và theo ý chí của người quản lý. Trong công tác quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng, dù có nội dung phức tạp đến đâu cũng luôn phải bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Thứ nhất, yếu tố con người. Theo Các Mác: "Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội".
Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người. Do đó, đánh giá đúng về con người, hiểu được tâm lý, nguyện vọng của con người thì hoạt động quản lý mới thực hiện được. Thứ hai, yếu tố chính trị. Là việc một người, nhiều người, hay một cơ quan, một tổ chức đặt ra các mục tiêu, đường lối và tạo ra một môi trường chính trị nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra.
Thứ ba, yếu tố quyền uy. Đó là tổng thể của quyền lực và uy tín. Quyền lực là công cụ để quản lý, nó bao gồm hệ thống pháp luật, điều lệ, kỷ luật, kỷ cương;. hoạt động theo một nguyên tắc nhất định, có sự phân công rõ ràng trên cơ sở khoa học quản lý; uy tín là phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức, năng lực của người quản lý.
9 Luan van Thứ tư, yếu tố thông tin. Trong công tác quản lý, thông tin là căn cứ để ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu QLNN: "là sự tác động, tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa". QLNN có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Như vậy, hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) đều là hoạt động QLNN. Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính Nhà nước (còn gọi là cơ quan quản lý Nhà nước) thực hiên để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước. Như vậy, QLNN là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là tính chính trị của QLNN và là quyền lợi chính trị của nhân dân.
Từ khái niệm QLNN như trên chúng ta hiểu rằng không phải quản lý nào cũng là QLNN, và Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan QLNN điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định. Với quan niệm trên, QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, thể hiện ở các đặc trưng sau: Một là: QLNN mang tính chất quyền lực Nhà nước. QLNN được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh 10 Luan van lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các quyết định quản lý.
Đảng ta đã chỉ rõ: "Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thống nhất quản lý trong cả nước. Tuân theo pháp luật là chấp hành chủ trương chính sách của Đảng". Việc quản lý bằng pháp luật đòi hỏi các cơ quan, các cán bộ, công chức trong tổ chức và hoạt động điều hành phải căn cứ vào luật, phải làm theo đúng quy trình pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế và phải kết hợp đúng đắn giữa pháp lý và đạo lý.
Muốn tăng cường pháp chế, quản lý đất nước bằng pháp luật, phải có các điều kiện sau: - Phải xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật. - Phải tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật. - Phải tiến hành cuộc đấu tranh cương quyết, không khoan nhượng chống các hành vi vi phạm pháp luật ở bất cứ cấp nào, cương vị nào. - Phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ ba loại biện pháp là: hành chính, kinh tế, giáo dục.
Những điều kiện này cũng được quy định rất rõ tại điều 6 khoản 1 đến khoản 8 về quản lý nhà nướctrong lĩnh vực thông kê theo luật thống kê 2015. Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước. Vì vậy, để QLNN đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn.