Chương 1 LÝ LUẬN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CẤP HUYỆN 1. Lý luận chung về hệ thống chính trị nước ta 1. Khái niệm hệ thống chính trị Thuật ngữ "hệ thống chính trị" xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị và hệ thống chính trị là sản phẩm của quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử nhất định. Khi nghiên cứu về thiết chế chính trị và cách thức tổ chức của một xã hội, C.Ăngghen đã tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị như một chế độ chính trị theo tính hệ thống của nó và sử dụng những thuật ngữ tương đương như: "hệ thống cai trị", "hệ thống đẳng cấp chính trị","cơ cấu chính trị", "hình thức chính trị", "thiết chế xã hội và chính trị","cơ cấu chính quyền".
Kế thừa và phát triển những tư tưởng về dân chủ và hệ thống chính trị của C.Lênin tiếp tục hoàn thiện khái niệm dân chủ và hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Trên thực tế, V.Lênin chưa sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" trong các bài nói, bài viết của mình, nhưng ông thường dùng khái niệm "chuyên chính vô sản" để nghiên cứu về thiết chế chính trị của xã hội. Hệ thống chuyên chính vô sản theo quan niệm của V.Lênin bao gồm: Nhà nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản – chính đảng của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn. Như vậy, nếu xét theo nội hàm, những thuật ngữ mà C.Ăngghen đưa ra và được V.Lênin kế thừa, phát triển với thuật ngữ hệ thống chính trị hiện đại có liên quan chặt chẽ với nhau và được hiểu là những khái niê ̣m tương đồng. Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị là một phạm trù rất quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị.
Hơn nữa, những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể, đối tượng, với các mối quan 9 hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có "đầu vào" và "đầu ra"; có nội dung và hình thức, có hiện tượng và bản chất. Vì vậy, hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị quan niê ̣m còn rất khác nhau, phụ thuộc vào khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau. Trong mọi xã hội có giai cấp, đối kháng giai cấp, quyền lực của giai cấp cầm quyền được thực hiện bằng một hệ thống các thiết chế và tổ chức chính trị nhất định, đó là hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức trong xã hội bao gồm các đảng chính trị, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp được liên kết với nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội, để củng cố, duy trì và phát triển chế độ đương thời phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền.
Như vậy, hệ thống chính trị gắn liền với sự phân chia giai cấp trong xã hội, nhưng giai cấp không phải là hiện tượng vĩnh hằng. Loài người đã và sẽ trải qua các thời kỳ khác nhau của xã hội: xã hội chưa có giai cấp và đối kháng giai cấp; xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp; và cuối cùng, lại trở về xã hội không có giai cấp và đối kháng giai cấp, nhưng ở một trình độ cao hơn. Từ một xã hội này chuyển sang một xã hội khác phải trải qua những thời kỳ quá độ khác nhau và để chuyển từ một xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp sang một xã hội không còn giai cấp và đối kháng giai cấp tất yếu phải trải qua một thời kỳ quá độ chính trị lâu dài - thời kỳ chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản, thời kỳ tồn tại hệ thống chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đặc điểm hệ thống chính trị ở nước ta hiê ̣n nay Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay về mặt thành tố bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống chính trị, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trụ cột, là 10 trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã hội. Về mặt tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức thành 4 cấp gắn liền với nền hành chính quốc gia: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn. Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức theo mô hình có đỉnh quyền lực.
So với nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước có cùng mô hình hệ thống chính trị, thì hệ thống chính trị Việt Nam vẫn có những đặc điểm khác biệt. Những đặc điểm chủ yếu của hệ thống chính trị Việt Nam là: Một là, hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, chỉ do một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nó thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, nhưng đồng thời cũng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội nói chung, hệ thống chính trị nói riêng xuất phát từ điều kiện cụ thể của nước ta như: truyền thống lịch sử; phẩm chất vốn có của Đảng; những thành tựu to lớn mà Đảng ta đem lại cho nhân dân trong quá trình lãnh đạo cách mạng. Hai là, các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng s ản thành lập, có lịch sử đấu tranh vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước. Các đoàn thể quần chúng luôn gắn mình với sự nghiệp cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc, thể hiện rõ là các tổ chức quần chúng có chức năng xã hội gắn với đời sống của các tầng lớp nhân dân, vừa tổ chức nhân dân trực tiếp thực hiện quyền làm chủ; vừa giúp Đảng, Nhà nước trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách tới nhân dân, vừa truyền đạt tiếng nói, nguyện vọng của dân đến Đảng, Nhà nước. Với lịch sử lâu dài, vẻ vang, với vai trò to lớn qua các thời kỳ và kinh nghiệm tổ chức quần chúng, các đoàn thể này xứng đáng là chủ thể của hệ thống chính trị.
11 Ba là, hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa được xây dựng theo mô hình Xô viết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới, hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn khá nặng nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Bốn là, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị còn rất non trẻ, lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ thực dân phong kiến), bị ảnh hưởng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải thực hiện rất nhiều nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn như: đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa đồng thời với hiện đại hóa đất nước, xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Những đặc điểm này vừa quy định kết cấu, tổ chức, vận hành và các mối quan hệ, vừa cho thấy những khó khăn thách thức mà chúng ta phải giải quyết, vừa đặt ra những yêu cầu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta khác với các hệ thống chính trị khác trên thế giới. Vị trí, vai trò của hệ thống chính trị ở nước ta hiê ̣n nay Ở nước ta hiện nay, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể chân chính của quyền lực.
Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị của nước ta gồm nhiều tổ chức, mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau do chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, nhưng cùng tác động vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của Nhân dân.1 Vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ yếu sau: 12 Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế-xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhằ m hiê ̣n thực hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng.
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua bô ̣ máy nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Cương liñ h, đường lối, chủ trương của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Vì thế , Đảng luôn quan tâm đến việc tổ chức, xây dựng bộ máy nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các nghị quyết của Đảng.