Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Chương 2 Thực trạng công tác thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Công ty Cổ phần kỹ thuật xây dựng Đại Tường, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. 6 Chương 3 Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Công ty Cổ phần kỹ thuật xây dựng Đại Tường, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ.
Một số khái niệm. Khái niệm dân chủ. Trong tri thức nhân loại, dân chủ được coi là một cụm từ có được từ “sản phẩm của nền văn minh”, là điều kiện và tiêu chuẩn tiến bộ xã hội. Dân chủ trong lịch sử thường được nhận diện như một phạm trù đa nghĩa với bản chất nhiều thứ bậc, do vậy, dân chủ được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau.
Nhìn từ khía cạnh tổng quát, dân chủ bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và cao đẹp. Dân chủ là sự hòa hợp giữa các giá trị: tự do, bình đẳng, sự thống nhất trong tính đa dạng. Ở mức độ này, dân chủ được hiểu như một lý tưởng mà con người khao khát hướng đến và cố gắng thực hành trong cuộc sống. Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốt đẹp thì dân phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm "dân chủ" (Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.
Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Dân chủ với tư cách là hiện tượng chính trị gắn liền với xã hội có giai cấp, nó mang tính giai cấp nên chế độ dân chủ cần được xem xét trong mối tương quan với chế độ nhà nước. Hai chế độ này nhiều khi khác nhau, đối lập nhau, nhưng về cơ bản thì tồn tại không thể thiếu nhau. Dân chủ có liên hệ chặt chẽ với bản chất của nhà nước, với chức năng, nhiệm vụ và hình thức nhà nước. Nhiều cách hiểu đã được đưa ra nhưng về cơ bản đều quy tụ về bản chất “Dân chủ tức là chính quyền của nhân dân” “Chế độ dân chủ, đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số” “Nếu không khinh thường lẽ phải và lịch sử, ai cũng thấy rõ ràng chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau thì không thể nói đến “dân chủ thuần tuý” được, mà chỉ có thể nói đến dân chủ có tính giai cấp” [19, tr.
Như vậy, dân 8 chủ trước hết là thuộc tính của nhà nước, trong đó người dân thể hiện quyền làm chủ của mình, kể cả quyền tạo lập và kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm bằng quyền năng của Nhà nước, thông qua các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước để nhân dân thực hiện các quyền của mình. Nếu xuất phát từ cách hiểu như trên, dân chủ trong hiện thực đời sống sẽ liên quan đến quan niệm về ba yếu tố: 1/ Nhân dân; 2/ quyền lực công cộng và 3/ tính chất trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực công cộng trong sở hữu quyền lực công cộng. Điểm khác nhau căn bản giữa cách hiểu về dân chủ trong thời cổ đại với thời hiện đại là ở cách quan niệm về phạm trù nhân dân và tính chất trực tiếp của mối quan hệ sở hữu quyền lực công cộng.
Đã là một nền dân chủ thì nó phải chứng tỏ quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế nào lại tùy thuộc vào các thời đại khác nhau mà xác định. Chế độ dân chủ nào thì nhà nước cũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa chế độ dân chủ này với chế độ dân chủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân dân có thực quyền. Điều này nói nên nội dung bản chất giai cấp của dân chủ.
Không có dân chủ trìu trượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dung cụ thể, xác định. Trong xã hội ai là nhân dân mới có dân chủ và trong nhân dân thì quyền lực thực sự, cuối cùng không phải lúc nào cũng thuộc về tất cả nhân dân. Như vậy, dân chủ chỉ là một nhưng nó bị chế ước bởi những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở các thời đại và các quốc gia khác nhau. Theo cách hiểu thông dụng ở Việt Nam “dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do.
Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [20, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý giải “dân chủ” một cách hết sức 9 giản dị, cô đọng và dễ hiểu, theo đó: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làm chủ”, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Như vậy, quan niệm về dân chủ gắn liền với nguyên lý chủ quyền nhân dân. Với việc kế thừa những giá trị tư tưởng và kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến tổ chức nhà nước trong lịch sử, nguyên lý về chủ quyền nhân dân được khẳng định như là bản chất và trụ cột của việc tổ chức và vận hành xã hội hiện đại.
Cho đến nay, mặc dù, với những góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng nội dung cơ bản và chung nhất của nguyên lý này là: quyền lực nhân dân là quyền lực tối cao và là quyền lực gốc trong các xã hội dân chủ; quyền lực nhân dân không được biểu hiện và thực thi liên tục bởi chính chủ thể của nó là nhân dân nhưng tư cách chủ thể của nhân dân thể hiện ở việc trực tiếp thực hiện một phần quyền lực, ủy thác thực hiện quyền lực và kiểm tra, giám sát, kể cả việc thay đổi, hủy bỏ quyền lực đã được ủy thác; quyền lực nhà nước là bộ phận cơ bản của quyền lực nhân dân được hình thành thông qua sự đồng thuận ủy quyền của nhân dân mà bằng chứng hữu hình của sự đồng thuận đó là sự hiện diện của chủ nghĩa lập hiến. Trong nội hàm của nguyên lý nói trên, nhân dân là một khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng của mọi cá nhân trong xã hội tuy có sự khác nhau về thành phần xã hội như dân tộc, sắc tộc, hoạt động chính trị - xã hội, quan điểm tư tưởng, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp v.v… nhưng thống nhất lại, vượt lên trên sự khác biệt xã hội để có và thực hiện một ý chí, một định hướng, một mục tiêu phát triển cộng đồng, đất nước. Từ phương diện chính trị - pháp lý, nhân dân - với sự thống nhất lại, vượt lên trên sự khác biệt xã hội đó đã trở thành một đoàn thể pháp lý bao gồm các cử tri được quyền hành xử chủ quyền thông qua các thể thức pháp lý nhất định. Chính các thể thức pháp lý này định chế hóa chủ quyền nhân dân.
Như vậy, dân chủ với tính cách là một chế độ, được thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. 10 Dân chủ đại diện (còn gọi là dân chủ gián tiếp) là hình thức dân chủ mà theo đó nhân dân thông qua đại diện của mình để bày tỏ chính kiến, để quyết định những vấn đề của đời sống cộng đồng. Nhờ thông qua bầu cử để lựa chọn những người ưu tú đứng đầu các cơ quan đại diện, nhờ đó những người đại diện sáng suốt trong việc quyết định vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, giải quyết nhanh chóng kịp thời những vấn đề bức bách trong xã hội đặt ra. Với sự ra đời, hình thành của Nhà nước, do mức độ rộng lớn về không gian, dân số ngày càng đông, trình độ dân cư chênh lệch, tính phức tạp và khẩn trương của công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà hình thức dân chủ đại diện trở thành phương thức chủ yếu của nền dân chủ xã hội.
Ở hầu hết các nước phát triển trên thế giới, quá trình mở rộng dân chủ dường như trước hết là quá trình hoàn thiện các hình thức dân chủ đại diện và các thiết chế đại diện sao cho các công dân có thể dễ dàng hơn trong việc bày tỏ chính kiến của mình khi tham gia vào quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dân chủ đại diện có những nhược điểm cho đến nay vẫn chưa khắc phục được. Đó là những biểu hiện đặc quyền, đặc lợi, có khả năng lạm quyền, tham nhũng mà quyền lực đó có được do nhân dân ủy quyền. Dân chủ trực tiếp là hình thái nhân dân trực tiếp quyết định các vấn đề, các công việc quan trọng của quốc gia của cộng đồng lãnh thổ, trực tiếp thông qua các đạo luật mà không một yếu tố trung gian nào.
Theo nghĩa đó, dân chủ trực tiếp gắn liền với nguồn gốc bản chất của khái niệm dân chủ (demokratia/δημοκρατία - tiếng Hy Lạp) mà có nghĩa là “quyền lực, sự cai trị của nhân dân” (power/ruleofthepeople). Chính vì vậy, dân chủ trực tiếp đôi khi còn được gọi là dân chủ đích thực/ nguyên nghĩa (pure/true democracy) và được xem là biểu hiện cho chính quyền của dân, do dân và vì dân. Nhìn nhận một cách tổng quát thì dân chủ trực tiếp là phương thức để người chủ quyền lực trực tiếp thể hiện ý chí của mình, tự mình thực hiện một số hoạt động trong chu trình 11 quyền lực. Dân chủ trực tiếp là một phương thức làm chủ của nhân dân khi nhân dân - chủ thể quyền lực duy nhất có thể bày tỏ ý chí, nguyện vọng, đề đạt kiến nghị nào đó trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên.
Kết quả của sự bày tỏ ý chí đó có thể có ý nghĩa quyết định, bắt buộc phải thi hành ngay như trưng cầu ý dân, bầu cử, bãi miễn đại biểu dân cử; hoặc chỉ có ý nghĩa tham khảo như các hình thức tham khảo ý kiến nhân dân, kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước v. Trong nền dân chủ hiện đại, các quốc gia đã ngày càng dành sự chú ý đặc biệt tới việc sử dụng các hình thức dân chủ trực tiếp để quyết định một số vấn đề quan trọng đối với quốc gia và các vấn đề của cộng đồng tại địa phương.