Luận Án Tiến Sĩ Về Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Từ Quan Điểm Triết Học Biện Chứng Duy Vật

Chuyên đề nghiên cứu Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Trong Triết Học Biện Chứng Duy Vật, cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

183
11
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHÁI NIỆM VÀ SỰ HÌNH THÀNH KHÁI NIỆM GIAI CẤP CÔNG NHÂN THỜI KỲ TRƯỚC MÁC

2.1. Lý luận chung về khái niệm lý luận - khoa học. Bản chất, nguồn gốc và các đặc điểm của khái niệm

2.2. Logic của khái niệm và logic vận động của khái niệm

2.3. Sự ra đời khái niệm giai cấp công nhân trong lịch sử tư tưởng trước Mác

2.4. Các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội châu Âu thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XIX

2.5. Tiểu kết chương 1

3. KHÁI NIỆM GIAI CẤP CÔNG NHÂN TRONG TƯ TƯỞNG CỦA C.ĂNGGHEN

3.1. Bản chất giai cấp công nhân và sự phát triển giai cấp công nhân. Định nghĩa khái niệm giai cấp công nhân

3.2. Mâu thuẫn của giai cấp công nhân

3.3. Các hình thái của lao động làm thuê (hình thái công nhân)

3.4. Ăngghen về con đường hiện thực hóa bản chất của giai cấp công nhân

3.5. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của C.Ăngghen về Đảng cộng sản

3.6. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của C.Ăngghen về cách mạng vô sản

3.7. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của C.Ăngghen về nhà nước chuyên chính vô sản

3.8. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của C.Ăngghen về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

3.9. Tiểu kết chương 2

4. SỰ VẬN ĐỘNG CỦA KHÁI NIỆM GIAI CẤP CÔNG NHÂN TỪ ĐẦU KỶ XX ĐẾN NAY

4.1. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của V.

4.2. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của V.Lênin về chủ nghĩa đế quốc

4.3. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của V.Lênin về một số nội dung của cách mạng tư sản kiểu mới (cách mạng dân chủ tư sản)

4.4. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân trong tư tưởng của V.Lênin về cách mạng vô sản (cách mạng xã hội chủ nghĩa)

4.5. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân từ sau V.Lênin mất đến nay

4.6. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân từ sau V.Lênin mất đến những năm 70 của thế kỷ XX

4.7. Sự phát triển khái niệm giai cấp công nhân từ khoảng những năm 70 của thế kỷ XX đến nay

4.8. Khái niệm giai cấp công nhân Việt Nam

4.9. Tiểu kết chương 3

5. CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Khái niệm giai cấp công nhân trong triết học biện chứng duy vật

Khái niệm giai cấp công nhân là một trong những khái niệm trung tâm trong triết học biện chứng duy vật. Nó không chỉ phản ánh bản chất của mối quan hệ giữa các giai cấp trong xã hội mà còn thể hiện sự phát triển của giai cấp công nhân qua các thời kỳ lịch sử. Theo triết học biện chứng, khái niệm này được hình thành từ những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội cụ thể. Sự ra đời của giai cấp công nhân gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp và sự xuất hiện của giai cấp tư sản. Điều này cho thấy rằng, giai cấp công nhân không chỉ là một khái niệm tĩnh mà còn là một thực thể động, luôn thay đổi và phát triển theo sự biến đổi của xã hội.

1.1. Bản chất và nguồn gốc của giai cấp công nhân

Bản chất của giai cấp công nhân được xác định bởi vị trí của họ trong quá trình sản xuất. Họ là những người lao động, không sở hữu tư liệu sản xuất và phải bán sức lao động của mình để sinh sống. Nguồn gốc của giai cấp công nhân xuất phát từ sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, nơi mà lao động trở thành hàng hóa. Triết học biện chứng chỉ ra rằng, sự hình thành của giai cấp công nhân không chỉ là kết quả của sự phát triển kinh tế mà còn là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội phức tạp. Điều này cho thấy rằng, để hiểu rõ về giai cấp công nhân, cần phải xem xét cả bối cảnh lịch sử và các yếu tố xã hội liên quan.

II. Vai trò của giai cấp công nhân trong xã hội

Vai trò của giai cấp công nhân trong xã hội là rất quan trọng. Họ không chỉ là lực lượng sản xuất chính mà còn là lực lượng cách mạng, có khả năng thay đổi cấu trúc xã hội. Theo triết học biện chứng duy vật, giai cấp công nhân có vai trò quyết định trong việc thực hiện các cuộc cách mạng xã hội. Họ là những người có khả năng nhận thức được vị trí của mình trong xã hội và từ đó có thể tổ chức đấu tranh cho quyền lợi của mình. Sự phát triển của giai cấp công nhân không chỉ mang lại lợi ích cho chính họ mà còn góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.

2.1. Giai cấp công nhân và sự phát triển xã hội

Sự phát triển của giai cấp công nhân có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của xã hội. Khi giai cấp công nhân phát triển, họ sẽ có khả năng tổ chức và đấu tranh cho quyền lợi của mình, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Triết học biện chứng nhấn mạnh rằng, sự phát triển của giai cấp công nhân không chỉ là một quá trình tự nhiên mà còn là một quá trình có tính chất cách mạng. Họ không chỉ là nạn nhân của sự bóc lột mà còn là những người có khả năng thay đổi cục diện xã hội thông qua các cuộc đấu tranh chính trị và xã hội.

III. Sự biến đổi của khái niệm giai cấp công nhân trong thời đại hiện nay

Khái niệm giai cấp công nhân đã trải qua nhiều biến đổi trong thời đại hiện nay. Sự phát triển của công nghệ, toàn cầu hóa và các hình thức lao động mới đã làm thay đổi bản chất của giai cấp công nhân. Họ không còn chỉ là những người lao động trong các nhà máy mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ và công nghệ thông tin. Triết học biện chứng duy vật cho rằng, sự biến đổi này không chỉ là sự thay đổi về hình thức mà còn là sự thay đổi về bản chất. Giai cấp công nhân hiện đại cần phải nhận thức rõ hơn về vai trò và vị trí của mình trong xã hội để có thể thích ứng và phát triển.

3.1. Giai cấp công nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho giai cấp công nhân. Họ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các nước khác, điều này có thể dẫn đến việc giảm lương và điều kiện làm việc. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng mở ra cơ hội cho giai cấp công nhân trong việc kết nối và tổ chức đấu tranh trên quy mô quốc tế. Triết học biện chứng chỉ ra rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, giai cấp công nhân cần phải đoàn kết và tổ chức lại lực lượng của mình để bảo vệ quyền lợi và nâng cao vị thế trong xã hội.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, kết luận, các công trình đã công bố của tác giả, tài liệu tham khảo, luận án cấu trúc thành 3 chương 7 tiết. luan an 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về sự vận động của khái niệm và tƣ tƣởng trƣớc Mác về khái niệm giai cấp công nhân Vấn đề khái niệm, nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, logic sinh thành và vận động của nó với tư cách là vấn đề trung tâm của logic học biện chứng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ hơn nửa thế kỷ nay. Trước hết phải kể đến công trình của nhà triết học Xô Viết M.

Rodentan (bản dịch tiếng Việt 1961) Nguyên lý lôgíc biện chứng [102] đã trình bày sâu về lịch sử hình thành logic học biện chứng mácxít, tư duy biện chứng và biện chứng của tư duy với tư cách là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của nó. Đặc biệt tác giả đã dành dung lượng đủ lớn trình bày dưới góc nhìn logic biện chứng về bản chất, sự sinh thành, vận động của các hình thức của tư duy, trong đó có khái niệm. Nói riêng về khái niệm, luận án có thể kế thừa những luận giải của Rodentan về nguyên nhân và các xu hướng vận động của khái niệm trong tư duy lý luận. Cũng theo hướng này nhà triết học Xô Viết E.

Ilencov (1974, bản dịch tiếng Việt 2003) trong công trình Logic học biện chứng [40] đã cho thấy rõ nguồn gốc thực sự khách quan của nội dung khái niệm và cách thức định nghĩa (chỉ ra nội hàm cơ bản của nó) trên tinh thần biện chứng gắn liền với sự vận động của thực tiễn; vai trò của các nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể và thống nhất lịch sử - logic trong kiến tạo nội hàm của các khái niệm khoa học. Trong lĩnh vực logic biện chứng về khái niệm, những người làm triết học ở Việt Nam đương đại cũng có những đóng góp đáng kể. Đó là các công trình của Tô Duy Hợp (chủ biên, 1985): Mác - Ăngghen - Lênin bàn về lôgíc biện chứng [33]; Phạm Thái Việt (1995): Sự hình thành mối tương quan giữa lôgíc và lịch sử trong lịch sử triết học [135], Về phạm trù cái lôgíc và cái lịch sử [136]; Bùi Thanh Quất, Nguyễn Ngọc Hà (1997): Khái niệm với tính cách một vấn đề triết học [96], Bùi Thanh Quất và… (2001): Về đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của lôgíc học biện chứng [97]… Trong các công trình này các tác giả ngoài việc làm rõ đối tượng, phương pháp đặc thù và nội dung nghiên cứu chủ yếu của logic học biện luan an 6 chứng, đã làm rõ đặc điểm của tư duy trừu tượng lý luận - khoa học biện chứng, lý giải vì sao lại có thể gọi tư duy này là tư duy khái niệm. Đặc biệt phải kể đến ở đây là cuốn Giáo trình logic học biện chứng [119] do các tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thúy Vân (2016) biên soạn làm tài liệu giáo khoa phục vụ việc học tập môn học cùng tên cho sinh viên ngành triết học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội.

Với tính chất như vậy, các tác giả đã khảo sát và trình bày biện chứng của các hình thức tư duy lý luận biện chứng, trong đó sự ưu tiên nhất được dành cho khảo sát khái niệm, bởi các tác giả kỳ vọng đây sẽ là hình mẫu để người học và người nghiên cứu có thể tự tìm tòi phân tích sâu hơn về logic vận động các hình thức logic khác của tư duy. NCS cho rằng kỳ vọng đó của các tác giả sẽ phần nào được hiện thực hóa trong luận án này, như thế cũng có nghĩa là cuốn giáo trình giúp ích nhiều cho NCS đặt ra và giải quyết các nội dung về logic vận động của khái niệm GCCN. Đi chuyên sâu theo hướng tạo dựng khuôn mẫu khảo sát vận động của khái niệm mà NCS rất quan tâm học hỏi có luận án tiến sĩ Lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận [110] của Nguyễn Thanh Tân (2005). Trong công trình này tác giả đã phân tích làm rõ hai nội dung chủ yếu của logic vận động khái niệm trong tư duy lý luận: sự tác động của các quy luật và nguyên tắc biện chứng cơ bản trong sự vận động của khái niệm, cơ chế diễn ra sự vận động; và các chiều hướng, nguyên nhân của sự vận động đó.

Tuy nhiên, do mục đích và khuôn khổ của luận án tác giả mới chỉ dừng lại vạch thảo những vấn đề lý thuyết chung về sự vận động của khái niệm, nói cách khác, ở đây mới chỉ có lý luận “chay”; vấn đề của NCS là kế thừa những thành quả đã đạt được để hiện thực hóa lý luận đó trên chất liệu cụ thể về sự vận động của khái niệm GCCN. NCS quan niệm sự vận động đó bắt đầu từ sự tạo lập dần dần các tiền đề lý luận và điều kiện kinh tế - xã hội của khái niệm GCCN. Các tiền đề lý luận của khái niệm GCCN trong thời kỳ trước Mác vốn thể hiện tập trung trong học thuyết của các nhà kinh tế học cổ điển Anh, của các lý thuyết gia XHCN không tưởng - phê phán Anh, Pháp. Đề cập đến quan niệm của họ trong những thập niên gần đây có một số nghiên cứu tiêu biểu dưới góc nhìn logic biện chứng như M.

Ilencôv đã nêu trên. Mặc dù đối tượng, phạm luan an 7 vi nghiên cứu khác nhau, nhưng các tác giả đều có kết luận chung rằng, trong tư tưởng của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển Anh, XHTB là trường tồn, vĩnh viễn và bất biến; họ đã không thể hiểu được bản chất, địa vị của GCCN trong xã hội ấy do chỗ họ không lý giải đúng hoặc đầy đủ các phạm trù kinh tế như giá trị, giá trị thặng dư, lợi nhuận… - những phạm trù phản ánh các quan hệ của xã hội đó. Nguyên nhân sâu xa của hạn chế nêu trên ở các nhà kinh tế học này là do khi nghiên cứu XHTB, họ đã chỉ biết phương pháp luận siêu hình vốn đòi hỏi tuân thủ tuyệt đối luật đồng nhất, cấm mâu thuẫn là tiêu chuẩn của tư duy đúng đắn. Nhưng thực tế nó lại dẫn đến cái nhìn phi lịch sử và làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các định nghĩa trong tư duy.

Rôdentan trong công trình nêu trên đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa trọng thương xuất phát từ những hiện tượng bề ngoài của quá trình lưu thông, những hiện tượng đã trở nên độc lập trong sự vận động của tư bản thương nghiệp, vì thế chủ nghĩa trọng thương chỉ thấy được lớp váng bên trên, không thấy được bản chất mối quan hệ giữa GCCN và GCTS; chủ nghĩa trọng nông cũng chưa thể hiểu được các liên hệ bên trong của quan hệ giữa tư sản với công nhân do họ đã đồng nhất lao động nói chung với lao động nông nghiệp, họ cho rằng tất cả các lao động khác lao động nông nghiệp, kể cả lao động công nghiệp đều là “phi sản xuất”, đều không tạo ra giá trị thặng dư được. Theo những người trọng nông, nguồn gốc duy nhất sinh ra giá trị thặng dư là năng suất của lao động nông nghiệp. Và năng suất ấy có được do đất đai màu mỡ, chứ không phải do bóc lột lao động không công của người công nhân; A. Smith trong học thuyết kinh tế của mình, đã không giải thích lợi nhuận từ giá trị thặng dư mà từ hứng thú của nhà tư bản.

Điều đó là do ông bị ảnh hưởng bởi tính chất 2 mặt trong phương pháp nghiên cứu đặt ngang hàng những liên hệ bên trong với liên hệ bên ngoài của mình. Sự “lầm lẫn” ấy dẫn ông tới khẳng định giá trị không phải do lao động mà do tiền công, địa tô và lợi nhuận tạo ra; D. Ricacdo thì quy tất cả các hiện tượng vào cơ sở, nên ông ta không giải thích được lợi nhuận một cách khoa học. Còn trong Lôgíc học biện chứng, Ilencôv chỉ ra Ricacdo có những quan điểm thiếu khoa học về vấn đề lao động và hàng hóa cũng như các hình thái của chúng do ông ta hiểu một cách máy móc, phiến diện cặp phạm trù nội dung và hình thức.

Đối với lao động, Ricacdo chỉ nhìn thấy mặt hình thức của lao động tức lao động luan an 8 nói chung - lao động trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mà bỏ qua mặt nội dung của lao động - lao động biểu thị mối quan hệ giữa con người với con người. Điều này đưa ông đến việc thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn của CNTB. Quan niệm phiến diện đó khiến ông mắc sai lầm trong quan niệm về giá trị. Quả thật, ông chỉ thấy được giá trị chung chung mà không thấy được tính xác định – các hình thái của giá trị.

Vì không thấy được tính xác định của giá trị nên ông chưa thể thấy được tính đồng nhất các yếu tố của hình thái giá trị và không thấy được sự khác biệt của lao động đã vật hóa với lao động sống. Do vậy, ông không thể biết tới giá trị thặng dư và nó thực sự được sinh ra từ đâu (nghĩa là không hiểu được quan hệ thực sự giữa công nhân và tư sản), đồng thời khiến học thuyết của ông rơi vào mâu thuẫn không thể giải quyết được. Ilencôv còn khẳng định antinomi quy luật giá trị và quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong học thuyết kinh tế của Ricacdo chỉ có thể được giải quyết bằng con đường tìm kiếm những mắt xích trung gian để phát hiện ra giá trị thặng dư được tạo ra do bóc lột sức lao động của công nhân. Nhưng Ricacdo không thể giải quyết Antinomi này vì ông thực hiện bằng con đường đặt ngay trực tiếp cái cụ thể dưới cái trừu tượng và làm thích nghi trực tiếp cái cụ thể bằng cái trừu tượng.

Ngoài nguyên nhân do phương pháp siêu hình dẫn đến sai lầm trong các quan niệm về phạm trù kinh tế và mối quan hệ giai cấp, địa vị giai cấp trong XHTB, Rôdentan trong công trình nêu trên chỉ ra, xảy ra những sai lầm ấy còn do các nhà kinh tế học tư sản, kể cả Ricacdo và Smith đều là những nhà tư tưởng của GCTS, của chế độ tư bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận Án Tiến Sĩ Về Khái Niệm Giai Cấp Công Nhân Từ Quan Điểm Triết Học Biện Chứng Duy Vật" của tác giả Trần Văn Giảng, dưới sự hướng dẫn của PGS, TS. Nguyễn Anh Tuấn, được thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2020. Bài viết tập trung vào việc phân tích khái niệm giai cấp công nhân từ góc độ triết học biện chứng duy vật, làm rõ vai trò và vị trí của giai cấp công nhân trong xã hội hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những luận điểm sâu sắc về sự phát triển của giai cấp công nhân và tầm quan trọng của nó trong việc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến lịch sử và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án về đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam", nơi đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Ngoài ra, bài viết "Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa đất nước" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của Đảng trong quá trình đổi mới và phát triển kinh tế. Cuối cùng, bài viết "Luận án về việc nâng cao ý thức chính trị cho công nhân ngành than Quảng Ninh hiện nay" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc nâng cao ý thức chính trị trong giai cấp công nhân, một chủ đề liên quan mật thiết đến luận án gốc.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về vai trò của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh lịch sử và hiện tại.