phần mở đầu, tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, kết luận, các công trình đã công bố của tác giả, tài liệu tham khảo, luận án cấu trúc thành 3 chương 7 tiết. luan an 5 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu lý luận chung về sự vận động của khái niệm và tƣ tƣởng trƣớc Mác về khái niệm giai cấp công nhân Vấn đề khái niệm, nguồn gốc, bản chất, đặc điểm, logic sinh thành và vận động của nó với tư cách là vấn đề trung tâm của logic học biện chứng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu từ hơn nửa thế kỷ nay. Trước hết phải kể đến công trình của nhà triết học Xô Viết M.
Rodentan (bản dịch tiếng Việt 1961) Nguyên lý lôgíc biện chứng [102] đã trình bày sâu về lịch sử hình thành logic học biện chứng mácxít, tư duy biện chứng và biện chứng của tư duy với tư cách là đối tượng nghiên cứu chuyên biệt của nó. Đặc biệt tác giả đã dành dung lượng đủ lớn trình bày dưới góc nhìn logic biện chứng về bản chất, sự sinh thành, vận động của các hình thức của tư duy, trong đó có khái niệm. Nói riêng về khái niệm, luận án có thể kế thừa những luận giải của Rodentan về nguyên nhân và các xu hướng vận động của khái niệm trong tư duy lý luận. Cũng theo hướng này nhà triết học Xô Viết E.
Ilencov (1974, bản dịch tiếng Việt 2003) trong công trình Logic học biện chứng [40] đã cho thấy rõ nguồn gốc thực sự khách quan của nội dung khái niệm và cách thức định nghĩa (chỉ ra nội hàm cơ bản của nó) trên tinh thần biện chứng gắn liền với sự vận động của thực tiễn; vai trò của các nguyên tắc đi từ trừu tượng đến cụ thể và thống nhất lịch sử - logic trong kiến tạo nội hàm của các khái niệm khoa học. Trong lĩnh vực logic biện chứng về khái niệm, những người làm triết học ở Việt Nam đương đại cũng có những đóng góp đáng kể. Đó là các công trình của Tô Duy Hợp (chủ biên, 1985): Mác - Ăngghen - Lênin bàn về lôgíc biện chứng [33]; Phạm Thái Việt (1995): Sự hình thành mối tương quan giữa lôgíc và lịch sử trong lịch sử triết học [135], Về phạm trù cái lôgíc và cái lịch sử [136]; Bùi Thanh Quất, Nguyễn Ngọc Hà (1997): Khái niệm với tính cách một vấn đề triết học [96], Bùi Thanh Quất và… (2001): Về đối tượng, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của lôgíc học biện chứng [97]… Trong các công trình này các tác giả ngoài việc làm rõ đối tượng, phương pháp đặc thù và nội dung nghiên cứu chủ yếu của logic học biện luan an 6 chứng, đã làm rõ đặc điểm của tư duy trừu tượng lý luận - khoa học biện chứng, lý giải vì sao lại có thể gọi tư duy này là tư duy khái niệm. Đặc biệt phải kể đến ở đây là cuốn Giáo trình logic học biện chứng [119] do các tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thúy Vân (2016) biên soạn làm tài liệu giáo khoa phục vụ việc học tập môn học cùng tên cho sinh viên ngành triết học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và nhân văn Hà Nội.
Với tính chất như vậy, các tác giả đã khảo sát và trình bày biện chứng của các hình thức tư duy lý luận biện chứng, trong đó sự ưu tiên nhất được dành cho khảo sát khái niệm, bởi các tác giả kỳ vọng đây sẽ là hình mẫu để người học và người nghiên cứu có thể tự tìm tòi phân tích sâu hơn về logic vận động các hình thức logic khác của tư duy. NCS cho rằng kỳ vọng đó của các tác giả sẽ phần nào được hiện thực hóa trong luận án này, như thế cũng có nghĩa là cuốn giáo trình giúp ích nhiều cho NCS đặt ra và giải quyết các nội dung về logic vận động của khái niệm GCCN. Đi chuyên sâu theo hướng tạo dựng khuôn mẫu khảo sát vận động của khái niệm mà NCS rất quan tâm học hỏi có luận án tiến sĩ Lôgíc vận động của khái niệm trong tư duy lý luận [110] của Nguyễn Thanh Tân (2005). Trong công trình này tác giả đã phân tích làm rõ hai nội dung chủ yếu của logic vận động khái niệm trong tư duy lý luận: sự tác động của các quy luật và nguyên tắc biện chứng cơ bản trong sự vận động của khái niệm, cơ chế diễn ra sự vận động; và các chiều hướng, nguyên nhân của sự vận động đó.
Tuy nhiên, do mục đích và khuôn khổ của luận án tác giả mới chỉ dừng lại vạch thảo những vấn đề lý thuyết chung về sự vận động của khái niệm, nói cách khác, ở đây mới chỉ có lý luận “chay”; vấn đề của NCS là kế thừa những thành quả đã đạt được để hiện thực hóa lý luận đó trên chất liệu cụ thể về sự vận động của khái niệm GCCN. NCS quan niệm sự vận động đó bắt đầu từ sự tạo lập dần dần các tiền đề lý luận và điều kiện kinh tế - xã hội của khái niệm GCCN. Các tiền đề lý luận của khái niệm GCCN trong thời kỳ trước Mác vốn thể hiện tập trung trong học thuyết của các nhà kinh tế học cổ điển Anh, của các lý thuyết gia XHCN không tưởng - phê phán Anh, Pháp. Đề cập đến quan niệm của họ trong những thập niên gần đây có một số nghiên cứu tiêu biểu dưới góc nhìn logic biện chứng như M.
Ilencôv đã nêu trên. Mặc dù đối tượng, phạm luan an 7 vi nghiên cứu khác nhau, nhưng các tác giả đều có kết luận chung rằng, trong tư tưởng của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển Anh, XHTB là trường tồn, vĩnh viễn và bất biến; họ đã không thể hiểu được bản chất, địa vị của GCCN trong xã hội ấy do chỗ họ không lý giải đúng hoặc đầy đủ các phạm trù kinh tế như giá trị, giá trị thặng dư, lợi nhuận… - những phạm trù phản ánh các quan hệ của xã hội đó. Nguyên nhân sâu xa của hạn chế nêu trên ở các nhà kinh tế học này là do khi nghiên cứu XHTB, họ đã chỉ biết phương pháp luận siêu hình vốn đòi hỏi tuân thủ tuyệt đối luật đồng nhất, cấm mâu thuẫn là tiêu chuẩn của tư duy đúng đắn. Nhưng thực tế nó lại dẫn đến cái nhìn phi lịch sử và làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các định nghĩa trong tư duy.
Rôdentan trong công trình nêu trên đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa trọng thương xuất phát từ những hiện tượng bề ngoài của quá trình lưu thông, những hiện tượng đã trở nên độc lập trong sự vận động của tư bản thương nghiệp, vì thế chủ nghĩa trọng thương chỉ thấy được lớp váng bên trên, không thấy được bản chất mối quan hệ giữa GCCN và GCTS; chủ nghĩa trọng nông cũng chưa thể hiểu được các liên hệ bên trong của quan hệ giữa tư sản với công nhân do họ đã đồng nhất lao động nói chung với lao động nông nghiệp, họ cho rằng tất cả các lao động khác lao động nông nghiệp, kể cả lao động công nghiệp đều là “phi sản xuất”, đều không tạo ra giá trị thặng dư được. Theo những người trọng nông, nguồn gốc duy nhất sinh ra giá trị thặng dư là năng suất của lao động nông nghiệp. Và năng suất ấy có được do đất đai màu mỡ, chứ không phải do bóc lột lao động không công của người công nhân; A. Smith trong học thuyết kinh tế của mình, đã không giải thích lợi nhuận từ giá trị thặng dư mà từ hứng thú của nhà tư bản.
Điều đó là do ông bị ảnh hưởng bởi tính chất 2 mặt trong phương pháp nghiên cứu đặt ngang hàng những liên hệ bên trong với liên hệ bên ngoài của mình. Sự “lầm lẫn” ấy dẫn ông tới khẳng định giá trị không phải do lao động mà do tiền công, địa tô và lợi nhuận tạo ra; D. Ricacdo thì quy tất cả các hiện tượng vào cơ sở, nên ông ta không giải thích được lợi nhuận một cách khoa học. Còn trong Lôgíc học biện chứng, Ilencôv chỉ ra Ricacdo có những quan điểm thiếu khoa học về vấn đề lao động và hàng hóa cũng như các hình thái của chúng do ông ta hiểu một cách máy móc, phiến diện cặp phạm trù nội dung và hình thức.
Đối với lao động, Ricacdo chỉ nhìn thấy mặt hình thức của lao động tức lao động luan an 8 nói chung - lao động trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mà bỏ qua mặt nội dung của lao động - lao động biểu thị mối quan hệ giữa con người với con người. Điều này đưa ông đến việc thừa nhận sự tồn tại vĩnh viễn của CNTB. Quan niệm phiến diện đó khiến ông mắc sai lầm trong quan niệm về giá trị. Quả thật, ông chỉ thấy được giá trị chung chung mà không thấy được tính xác định – các hình thái của giá trị.
Vì không thấy được tính xác định của giá trị nên ông chưa thể thấy được tính đồng nhất các yếu tố của hình thái giá trị và không thấy được sự khác biệt của lao động đã vật hóa với lao động sống. Do vậy, ông không thể biết tới giá trị thặng dư và nó thực sự được sinh ra từ đâu (nghĩa là không hiểu được quan hệ thực sự giữa công nhân và tư sản), đồng thời khiến học thuyết của ông rơi vào mâu thuẫn không thể giải quyết được. Ilencôv còn khẳng định antinomi quy luật giá trị và quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong học thuyết kinh tế của Ricacdo chỉ có thể được giải quyết bằng con đường tìm kiếm những mắt xích trung gian để phát hiện ra giá trị thặng dư được tạo ra do bóc lột sức lao động của công nhân. Nhưng Ricacdo không thể giải quyết Antinomi này vì ông thực hiện bằng con đường đặt ngay trực tiếp cái cụ thể dưới cái trừu tượng và làm thích nghi trực tiếp cái cụ thể bằng cái trừu tượng.
Ngoài nguyên nhân do phương pháp siêu hình dẫn đến sai lầm trong các quan niệm về phạm trù kinh tế và mối quan hệ giai cấp, địa vị giai cấp trong XHTB, Rôdentan trong công trình nêu trên chỉ ra, xảy ra những sai lầm ấy còn do các nhà kinh tế học tư sản, kể cả Ricacdo và Smith đều là những nhà tư tưởng của GCTS, của chế độ tư bản.