CHƯƠNG 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE DỊCH VỤ Y TE BỆNH VIỆN CONG 1. KHÁI NIỆM VÀ DAC DIEM CUA DỊCH VỤ Y TE BỆNH VIỆN CÔNG 1. Những khái niệm cơ bản Một cách tổng quát, có thé định nghĩa: Dich vu là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra những sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn kịp thời, thuận lợi, hiệu quả hơn các nhu cầu trong sản xuất và đời sống của con người. Xét về mặt lô-gic, dịch vụ y tế có thể được cung cấp bởi nhiều chủ thể khác nhau.
Dich vu y tế bệnh viện công chính là những dich 4 vụ y tế phục vụ các tầng lớp dân cư được cung cấp bởi các bệnh viện do nhà nước thành lập và hoạt động theo các quy định pháp luật của nhà nước. Những đặc điểm cơ bản của dịch vụ y tế bệnh viện công - Sản phẩm dịch vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hàng hoá tư nhân Khác với các ngành sản xuất vật chất và cung cấp dịch vụ khác, sản phẩm dich vụ y tế vừa mang tính chất hàng hoá công cộng vừa mang tính chất hàng hoá tư nhân. Sản phẩm dịch vụ y tế mang tính chất hàng hoá công cộng vì nó có đầy đủ hai đặc tính của hàng hoá công cộng đó là không muốn loại trừ và không thẻ loại trừ. Tính chất thứ hai của sản phẩm dịch vụ y tế là nó mang tính chất của hàng hoá tư nhân.
Tính chất này của sản phầm dịch vụ y tế đòi hỏi người sử dụng dịch vụ y tế phải trả phí sử dụng dịch vụ để bù đắp chỉ phi, tái sản xuất, tái cung cấp sản phẩm dịch vụ y tế. - Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn lực chú yếu trong việc dam bảo các dịch vụ y té cơ bản Chuyển sang thực hiện cơ chế thị trường đối với các hoạt động y tế, Nhà nước có thể động viên được thêm nguồn thu nhập đáng kể để bổ sung vào nguồn ngân sách hạn ché , nâng cao được chất lượng phục vụ của ngành y tế. Tuy nhiên cũng không có nghĩa là Nhà nước thả nổi cho thị trường quyết định toàn bộ .Ngân sách Nhà nước van là nguồn lực chủ yếu trong việc đảm bảo các dịch vụ y tế cơ bản, trợ cấp cho người nghèo và định hướng thị trường. CO CHE TÀI CHÍNH DOI VỚI DỊCH VỤ Y TE BỆNH VIỆN CÔNG Cơ chế tài chính cho các dịch vụ y tế là toàn bộ những phương thức, cách thức chi trả và thanh toán các dịch vụ y tế đã được cung 5 cấp, phù hợp với pháp luật và nhằm đảm bảo cho người cung cấp dịch vụ y tế có thể duy trì hoạt động cung cấp một cách bình thường (có lợi nhuận đối với cá nhân, cơ sở khám chữa bệnh tư nhân).
Cơ chế tài chính đối với dich vụ y tế bệnh viện công là hệ thống những quy định của nhà nước về nguồn tài chính cho việc cung cấp và tiếp cận các dịch vụ y tế bệnh viện công, góp phần thực hiện chính sách CSSK đối với dân cư. Trên thế giới thường có ba hình thức cung cấp tpi chính cho dịch vụ y tế bệnh viện công: (i) Nguồn tụi chính từ ngân sách nhụi n=ớc; (ii) Chi phí từ túi ng-ời dân; vụ (iii) Các mô hình chi trả tr~ớc hay còn gọi lụ bảo hiểm y tế. Nguồn tpi chính từ ngân sách nhụ n—ớc Trước hết, ngân sách nhà nước là nguồn để nhà nước đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các bệnh viện công. Ngân sách nhà nước cũng là nguồn đảm bảo chỉ thường xuyên cho sự hoạt động bình thường của hệ thống bệnh viện công.
Chi phí cá nhân (chi tra trực tiếp từ túi ng-ời dân) Dịch vụ y tế cũng mang ý nghĩa là HHCN. Vì thế, việc cá nhân người bệnh phải trực tiếp chỉ trả cho các dich vụ y tế — ngay cả dịch vụ y tế bệnh viện công là điều tự nhiên. Khoản chi này, ở Việt Nam được gọi là Viện phí. Bao hiểm y tế hay các mô hình chỉ tra tr~ớc Bảo hiểm y tế là một trong những biện pháp chia sẽ rủi ro về chỉ phí y tế giữa cá nhân và cộng đồng.
Bảo hiểm y tế được khai thác bang hai hình thức là bảo hiển y tế bắt buộc và bảo hiểm y té tự nguyện. MỘT SO KINH NGHIEM QUOC TE VE THỰC HIỆN CƠ CHE TÀI CHÍNH DOI VỚI DỊCH VỤ BỆNH VIEN CÔNG VA BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 1. Hệ thống y tế nhà nước (HTYTQG) ở Vương Quốc Anh Hệ thống nay ra đời từ năm 1948. Nguyên tắc là: tao khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) cho tất cả mọi người dựa trên nhu cầu chứ không phải trên khả năng chỉ trá.
Song, mặc dù đạt được nhiều thành tựu, HTYTQG Anh cũng không bắt kịp những thay đổi của xã hội. Để được sử dụng dịch vụ, bệnh nhân thường phải chờ đợi quá lâu. Có sự chênh lệch không thé chấp nhận được về tiêu chuẩn trên cả nước và những gì bệnh nhân được hưởng phụ thuộc quá nhiều vào nơi họ cư trú và HTYTQG. Chính sách CSSK cho người nghèo ở Thái Lan.
- Các chương trình CSSK cho người nghèo giai doan trước 2001 Vào thời điểm năm 1998, tổng cộng diện bao phủ của chương trình CSSK miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, trẻ em, người tàn tật và hai chương trình BHYT bắt buộc cho công chức và người lao động trong các doanh nghiệp !à 65% dan số Thái Lan. CSSK cho 35% dân số còn lại là một thách thức lớn đối với Thái Lan. - Chương trình thẻ 30 bạt - giải pháp CSSK cho người nghèo lồng ghép trong CSSK toàn dân Nội dung cơ bản của chương trình cải cách này là dừng tất cả các chương trình BHYT tự nguyện và các chương trình thẻ KCB miễn phí cho người nghèo, người cao tuổi, trẻ em và người tàn tật; thay vào đó là cấp thẻ KCB (gợi Id thé 30 bat) cho 48 triệu công dân không thuộc đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Với giải pháp này, Thái Lan nhanh chóng đạt mục tiêu 100% dân số được CSSK.
Cai cách chính sách Y tế nông thôn ớ Trung Quốc và kinh nghiệm cho các nước đang phát triển Hệ thống y tế hợp tác xã ("cooperative medical system" - CMS) ở Trung quốc đã có một thời hoàng kim vào những năm 70 thế kỷ trước, khi CMS bao phủ tới 90% nông dan Trung quốc. Nếu coi CMS là một chương trình bảo hiểm y tế dựa trên cộng đồng thì đây chính là chương trình BHYTCD thành công nhất cho tới nay trên thế giới. Đến cuối năm 2004, chương trình "new CMS" được thí điểm tại 333 huyện (khoảng 16% số huyện của Trung quốc) tại tất cả 31 tỉnh ở Trung Quốc. Dự kiến đến cuối năm 2010, "new CMS" sẽ được mở rộng ra toàn quốc.
Kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam ï) Nhà nước phải là người “cầm chịch” trong việc soạn thảo , ban hành các chủ trương, chính sách, chương trình chăm sóc sức khoẻ cho người dân. ii) Chính sách CSSK, cũng như các chính sách tài chính y tế „chính sách cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế, chính sách phát triển nhân lực y té,chinh sách tổ chức và quản lý phải luôn luôn được điều chỉnh cho phủ hợp với thực tiễn. iii) Tài chính cho y tế cần được huy động từ nhiều nguồn; thực hiện phân bé tài chính y tế theo nhu cau với hệ số điều chỉnh dựa trên một số yêu té địa lý, dân cư, điều kiện kinh tế xã hội, v.Uu tiên y tế dự phòng. iv) Tạo khả năng tiếp cận dịch vụ(CSSK cho tất cả mọi người dựa trên nhu cầu chứ không phải trên khả năng chỉ trả.
Có cơ chế tài chính đối với dịch vụ y tế bệnh viện công theo hướng tinh đúng tính đủ tất cả các chỉ phí tạo điều kiện cho chủ trương chuyên cơ chế cấp NSNN cho các cơ sở KCB sang cấp cho các đối tượng hưởng thụ 8 dịch vụ y tế được nhà nước trợ cấp. v) Củng cé mạng lưới y tế dự phòng tăng cường chăm sóc sức khoẻ ban đầu nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; mở rộng và phát huy vai trò của khu vực y tế tư nhân CHƯƠNG 2 CƠ CHÉ TÀI CHÍNH VÀ THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ Y TẾ BỆNH VIỆN CÔNG Ở VIỆT NAM 2. CƠ CHE TÀI CHÍNH VÀ VIỆC CUNG CAP , TIẾP CAN DỊCH VỤ Y TE BỆNH VIEN CÔNG Ở VIỆT NAM 2. Cơ chế tài chính ngân sách Nhà nước trong lĩnh vực y tế công.
Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong đầu tư xây dựng cơ sở vật chat trang thiết bị trong lĩnh vực y tế. Chi hoạt động thường xuyên là các nội dung chỉ nhằm đảm bảo sự hoạt động bình thường của công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Theo tính chất chỉ, chỉ hoạt động thường xuyên có thể phân biệt thành hai nội dung chỉ: thứ nhất là chi cho công tác y tế dy phòng và thir hai là chỉ trực tiếp cho công tác khám chữa bệnh. Chỉ cho công tác y tế dự phòng là chỉ cho các hoạt động mang tính chất ngăn ngừa, phòng chống dịch bệnh, bệnh tật một cách tích cực, chủ động .Chi cho công tác khám chữa bệnh là các chi phí cần thiết cho máy móc thiết bị, thuốc men, máu, dich truyền, vật tư.
phục vụ trực tiếp và bị tiêu hao trong quá trình điều trị trực tiếp cho người bệnh. Ngoài ra trong chi thường xuyên còn các nội dung chi đào tao cán bộ y tế, cho nghiên cứu khoa học. Theo Luật Ngân sách được Quốc hội thông qua năm 2002, tại 9 cấp tỉnh việc quản lý và phân bổ ngân sách y tế thuộc quyền của UBND tỉnh uỷ nhiệm cho Sở Tài chính. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các tỉnh đều thực hiện theo phương thức nêu trên mà tại nhiều tỉnh vẫn áp dụng việc quản lý ngân sách y tế theo ngành như tỉnh thần của Nghị định 01/99 về y tế địa phương, tức là Sở Y tế chịu trách nhiệm phân bé và quan lý ngân sách cho các đơn vị trong ngành y tế trên địa ban tỉnh.