đặt vấn đề thay đổi các chế độ chính trị. Khi đề cập đến công nhân truyền thống và YTCT của công nhân truyền thống trên thế giới, cuốn sách "Lịch sử phong trào và công nhân quốc tế" [107], đã trình bày một cách hệ thống lịch sử phong trào công nhân quốc tế qua bốn giai đoạn: từ khi giai cấp vô sản ra đời đến khi thành lập quốc tế thứ nhất; từ công xã Pari đến trước Cách mạng tháng Mười Nga; từ Cách mạng tháng Mười Nga đến khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai và từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai khi hệ thống XHCN ra đời đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược qua đó 7 YTCT của GCCN cũng hình thành và phát triển theo từng giai đoạn. Tác giả khẳng định: Giai cấp vô sản các nước dù mầu da, tiếng nói, phong tục tập quán khác nhau, nhưng những quyền lợi cơ bản thì giống nhau, họ có nguyện vọng chung là giải phóng khỏi áp bức, bóc lột và phải chống với kẻ thù chung là giai cấp tư sản ở nước mình, cùng sự câu kết của giai cấp ấy trên phạm vi thế giới [107, tr. Đối với YTCT của công nhân Việt Nam, Ban Cận hiện đại - Viện Sử học Việt Nam trong cuốn sách "Một số vấn đề về lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam" [4], cho rằng, GCCN Việt Nam được hình thành vào lúc dân tộc ta chuẩn bị tích cực bước vào thời đại mới của loài người.
Sự ra đời này chứng minh cho các giá trị YTCTTT của công nhân Việt Nam. "Tinh thần đó đã nêu cao ý thức độc lập, tự chủ, tiếp thu những tiến bộ của tư trào dân chủ, để dành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, mà không phải do giai cấp tư sản lãnh đạo" [4, tr. Mặt khác, "công nhân Việt Nam được truyền thụ một tinh thần yêu nước nồng nàn và tinh thần yêu nước ấy thúc đẩy ý thức giai cấp sớm hình thành" [4, tr. Từ chủ nghĩa yêu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đưa GCCN Việt Nam đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đây, GCCN đã nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình: Một mặt, gắn cách mạng giải phóng dân tộc thành một bộ phận không tách rời với cách mạng vô sản thế giới, mặt khác, tự mình phải gương ngọn cờ dân tộc, dân chủ, đoàn kết công nhân trong nước đánh đổ chủ nghĩa đế quốc đang thống trị đất nước và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là điều kiện giải phóng giai cấp vô sản Việt Nam, đồng thời cũng đóng góp vào thắng lợi chung của phong trào vô sản thế giới [4, tr.
Chuyển từ tự phát sang tự giác, từ khi giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, GCCN Việt Nam đã "vụt lớn lên với một nhận thức mới không thể có 8 ở một giai cấp nào khác: phải đoàn kết đấu tranh lật đổ cả bộ máy thống trị thực dân, phong kiến, dành lại độc lập, tự do, tiến lên CNXH thì mới chấm dứt được cuộc đời nô lệ" [4, tr. Dưới góc độ lịch sử, các tác giả Ngô Văn Hòa - Dương Kinh Quốc viết cuốn sách: "Giai cấp công nhân Việt Nam những năm trước khi thành lập Đảng" [35]. Khi nghiên cứu về YTCT, theo các tác giả, GCCN Việt Nam đã sớm mang trong mình tinh thần cách mạng triệt để của giai cấp và những truyền thống tốt đẹp nhất của dân tộc. Ý thức dân tộc là động lực thúc đẩy ý thức giai cấp công nhân sớm hình thành; điều kiện sinh hoạt của người công nhân là sơ sở để từ đó nảy sinh nên ý thức giai cấp mà trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ ý thức giai cấp đó mới chỉ thể hiện ở giai đoạn đầu, tức sự hình thành tâm lý giai cấp; chính sách sử dụng nhân công của thực dân tư bản Pháp đứng trên góc độ hình thành ý thức giai cấp công nhân mà xét, đã tạo điều kiện cho ý thức dân tộc và ý thức giai cấp quyện vào nhau, hòa với nhau làm một [35, tr.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, GCCN Việt Nam ngày càng trở nên đông đảo, trở thành một khối đại đoàn kết, nhất trí trong phạm vi toàn quốc. Từ khi Nguyễn Ái Quốc - người Việt Nam đầu tiên tiếp thu truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân Việt Nam đến khi tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội được thành lập (năm 1925), phong trào "vô sản hóa", sự ra đời của Công hội đỏ và sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam thì GCCN đã bước lên vũ đài chính trị, tiến tới thành lập chính đảng của mình. Từ đây, cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do GCCN lãnh đạo. Các tác giả của Viện Sử học với cuốn sách: "Xây dựng và phát triển đời sống văn hóa của giai cấp công nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" 9 [103].
Cuốn sách gồm nhiều bài viết của nhiều tác giả đề cập đến việc xây dựng đạo đức, lối sống, YTCT của người công nhân trong thời kỳ hội nhập quốc tế như nhận thức chính trị, tình cảm chính trị, thái độ ứng xử, văn hóa doanh nghiệp. Trên cơ sở đáp ứng yêu cầu của điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), tăng cường hội nhập quốc tế và một số yêu cầu đặt ra đối với việc nâng cao YTCT, đời sống văn hóa của GCCN trong thập niên 2011-2020, các tác giả đã đưa ra các quan điểm và các giải pháp xây dựng và nâng cao đời sống văn hóa của GCCN Việt Nam. Tác giả Phan Thanh Khôi trong cuốn sách: "Ý thức chính trị của giai cấp công nhân nước ta, biểu hiện thực trạng và xu hướng" [100] - cho rằng: "ý thức chính trị là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh mọi mặt của đời sống chính trị" [100, tr. Theo tác giả, biểu hiện về YTCT của GCCN nước ta hiện nay được thể hiện rõ nhất thông qua nhận thức và thái độ của người công nhân.
Trên cơ sở phân tích thực trạng của những nhận thức và thái độ chủ yếu đó, tác giả cho rằng, YTCT của công nhân nước ta hiện nay không cao, không tương xứng với vị trí chủ đạo của mình trong xã hội và chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Tác giả cũng đưa ra dự đoán xu hướng YTCT của GCCN trong những năm tới là YTCT của GCCN Việt Nam sẽ có thêm những sắc thái biểu hiện, sẽ được nâng cao một bước. Tuy nhiên, những biểu hiện đó vẫn biến đổi không đều nhau và vẫn không đều ở các thế hệ và ở từng bộ phận. Các tác giả của Viện Công nhân và Công đoàn với cuốn sách: "Giải pháp xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI" [101], trên cơ sở phân tích thực trạng về cơ cấu tổ chức, YTCT, giác ngộ giai cấp, năng lực chuyên môn tay nghề của GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới và điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể ở Việt Nam, các tác giả đã đưa ra những giải pháp như: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn, củng cố khối liên minh công - nông - trí thức, 10 nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo nói chung và đào tạo nghề trong công nhân nói riêng nhằm xây dựng GCCN Việt Nam phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và tay nghề, năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, góp phần xây dựng một đội ngũ công nhân trí thức đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.
Tác giả Nguyễn Thị Ngân trong cuốn sách: "Xây dựng ý thức tình cảm dân tộc chân chính cho giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" [66] cho rằng GCCN nước ta là giai cấp tiên tiến nhất, đóng vai trò chính trong sự phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta. Do quá trình toàn cầu hóa và hợp tác quốc tế mang lại, công nhân Việt Nam hiện nay đã mang tính quốc tế và mang tính hiện đại. Cùng với sự phát triển của đất nước, người công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã có sự chuyển biến trong ý thức, từ chỗ chỉ thừa nhận giá trị cộng đồng, tập thể, dân tộc sang chỗ biết tôn trọng giá trị cá nhân trong mối quan hệ hài hòa với tập thể và cộng đồng dân tộc; chuyển biến từ dạn dày kinh nghiệm trong đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng ít nhạy cảm về kinh tế sang năng động, chủ động, có kiến thức khoa học, kiến thức quản lý kinh tế - xã hội và kinh nghiệm xây dựng xã hội mới. Không chỉ vậy, GCCN Việt Nam còn có sự biến đổi cả về số lượng và chất lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội, công nhân có nhiều trong các thành phần kinh tế.
Những biến đổi đó có nhiều mặt thuận lợi nhưng cũng tạo ra không ít cản trở cho việc xây dựng YTCT, ý thức giai cấp, ý thức tổ chức kỷ luật. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có kế hoạch giáo dục YTCT, nâng cao ý thức giai cấp, ý thức tình cảm dân tộc chân chính để người công nhân nhận thức được sứ mệnh lịch sử (SMLS) của giai cấp mình. Trong bài viết: "Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình" [49], tác giả Trần Thị Bích Liên đã trình bày khái quát về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và chủ quan trong việc thực hiện SMLS của GCCN. 11 Tác giả cũng nêu lên vấn đề tích cực hóa nhân tố chủ quan trong việc thực hiện SMLS của GCCN Việt Nam.
Từ những lý luận đó, tác giả tập trung đưa ra những nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định việc thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam hiện nay. Theo tác giả, có ba nhân tố chủ quan mà tác giả đưa ra đó là: 1- Sự giác ngộ ý thức giai cấp, giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin; 2- Có một chính đảng vững mạnh, trung thành với SMLS của GCCN, với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc; 3- Sự đoàn kết thống nhất trong phong trào công nhân. Từ ba luận điểm đó, tác giả cũng làm nổi bật lên thực trạng của ba nhân tố chủ quan này đang diễn ra như thế nào, những kết quả đạt được và những mặt hạn chế.