Chương 1: Tổng quan về chỉ tiêu công và quản lý chỉ tiêu công Chương 2: Thực trạng quản lý chỉ tiêu công ở Việt Nam Chương 3: Quan điểm và các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Ichi tiêu công ở Việt Nam CHUONG 1: TONG QUAN VE CHI TIÊU CONG VÀ QUAN LY CHI TIEU CONG 1. CHI TIEU CONG_DAC DIEM VA VAI TRÒ: 1.1 Khái niệm, đặc điểm chi tiêu công: 1.Khái niệm chỉ tiêu công: Nhà nước có vai trò kinh tế chung rất quan trọng. Vai trò ấy thể hiện chủ yếu ở chỗ khắc phục thất bại thị trường, điều tiết vĩ mô, nhằm làm cho các hoạt động kinh tế có hiệu quả, công bằng và ồn định. Điều này được thé hiện rõ thông qua quá trình chi tiêu công của Nhà nước.
Qua quá trình này, Nhà nước sẽ cung cấp một lượng hàng hoá và dịch vụ công cộng cho xã hội. Bên cạnh đó, Nhà nước còn tham gia vào việc cung cấp một lượng hàng hoá tư nhân, đó là những hàng hoá trong các lĩnh vực mà tư nhân sẽ không đầu tư hoặc đầu tư không hiệu quả, đòi hỏi sự đầu tư của nhà nước. Ví dụ như hàng hoá tư nhân chỉ phí cao ( nước sạch,. Nhà nước phải đầu tư để sản xuất một số hàng hoá tư nhân vì lý do chính trị xã hội, mà nếu không có việc sản xuất các loại hàng hoá này thì nền kinh tế sẽ không có hiệu quả.
Chỉ tiêu công phản ánh hoạt động mua sắm của các loại hàng hóa và dịch vụ mà Chính phủ mua vào, để qua đó cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội, nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước. Chỉ tiêu công tạo ra hàng hóa dịch vụ được cung cấp công cộng mà người dân có nhu cầu có thẻ dễ dàng tiếp cận. Nhà nước có thể cung cap những loại hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội dưới hình thức: "người hưởng tự do mà không trả tiền" hoặc dưới dạng thu phí, lệ phí - một hình thức thu hồi chỉ phí đầu tư của Nhà nước, nhưng thường không theo cơ chế giá thị trường. Chi tiêu công còn thực hiện chính sách tái phân phối thu nhập.
Đặc điểm chỉ tiêu công Đặc điểm nổi bật của chỉ tiêu công là nhằm phục vụ cho lợi ích của cộng đồng dân cư ở các vùng hay trong phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó, nhà nước cung cấp một lượng hàng hóa và dịch vụ công cho nền kinh tế. Thứ đến, Chi tiêu công luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà Nước thực hiện, nên việc ra quyết định trong chỉ tiêu công luôn mang tính chất phức tạp. Các khoản khi tiêu công do chính quyền nhà nước các cấp đảm nhiệm theo nội dung đã được quy định theo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước và các khoản chỉ tiêu này được đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT - XH.
Trong đó, các cấp của cơ quan quyền lực nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chỉ tiêu công cộng nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. Một bộ phận quan trọng trong các khoản chi tiêu công cộng là mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp. Điều này được thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu từ những hàng hoá và dịch vụ công do Nhà nước cung cấp đều được tính đúng theo khối lượng và giá trị thực tế của nó. Nó được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT - XH của nhà nước.
Có thé thay tất cả các hàng hoá mà khu vực tư nhân cung cấp đều có chung một đặc điểm: người cung cấp hàng hoá đều muốn những người tiêu dùng phải trả tiền và thu lợi nhuận trong quá trình đó. Hàng hoá và dịch vụ công cộng không có chung đặc điểm ấy, mà với chúng việc thu tiền là thứ yếu. Vì vậy, khu vực tư nhân thường quay lưng lại với việc sản xuất hàng hoá công cộng. Thí dụ, làm sạch không khí sẽ mang lại lợi ích to lớn, nhưng không có công ty tư nhân nao làm điều đó vì nó không thu được lợi nhuận từ dịch vụ này.Vai trò của Chỉ tiêu công: Thứ nhất, Chỉ tiêu công góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Tùy từng thời kỳ, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế khác nhau, Nhà nước có các ưu tiên danh mục đầu tư khác nhau như; đầu tư vào các cơ sở hạ tầng, hỗ trợ kinh doanh, phát triển nguồn nhân lực. Thứ hai, Chỉ tiêu công là một công cụ điều chỉnh chu kỳ kinh tế. Khi kinh tế trong thời kỳ suy thoái, Nhà nước sẽ mở rộng chi tiêu và ngược lại, khi kinh tế trong thời kỳ lạm phát, Nhà nước sẽ thu hẹp chỉ tiêu. Thưa ba, Chỉ tiêu công còn có vai trò nồi bật là tái phân phối thu nhập, thực hiện công bằng xã hội.
Thứ tư, Chỉ tiêu công nhằm sửa chữa các thất bại thị trường, khu vục công sẽ cung cấp những hàng hóa thuộc lĩnh vực nhạy cảm, gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội; như Quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội. và đồng thời khu vực này cũng cung cấp hàng hóa khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả, hoặc các lĩnh vực cung cấp thông tin không hoàn hảo: như y tế, giao thông. Nội dung và phân loại chỉ tiêu công: 1. Các nguồn tài trợ cho chỉ tiêu công: Các nguồn thu của Nhà nước nhằm tài trợ cho chỉ tiêu công bao gồm: Y Nguồn thu từ thuế và lệ phí Y Nguồn thu từ đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức xã hội và dân cư.
Y Nguồn tai trợ từ bên ngoài. Y Các nguồn khác được ghi thu vào ngân sách nhà nước. Phân loại chỉ tiêu công: Chỉ tiêu công diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Căn cứ vào từng loại, có thể phân ra các kiểu chỉ tiêu công như sau.
Căn cứ vào chức năng vĩ mô của nhà Nước: Chỉ tiêu công bao gồm các nhóm chi cho các lĩnh vực sau: v Xây dựng cơ sở hạ tầng Tòa án và viện kiểm soát N Hệ thống, quân đội và an ninh xã hội Hệ thống giáo dục, y tế. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp Hệ thống quản lý hành chính Nhà nước Y Chi tiêu viện trợ nước ngoài, ngoại giao Y Chỉ khác b. Căn cứ vào quy trình lập ngân sách: Y Chi tiêu công theo các yêu tố đầu vào Y Chỉ tiêu công theo các yếu tố đầu ra. Nội dung của quy trình này sẽ được phân tích kỹ trong phan sau.
e Căn cứ vào tính chất kinh tế: Trong quan lý tài chính công, chỉ tiêu công được chia làm 2 nội dung lớn: Chi thường xuyên và chỉ đầu tu phát triển. Y Chỉ thường xuyên: Là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước dé đáp ứng nhu cau chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước ngày càng gia tăng, do đó càng làm phong phú nội dung chi thường xuyên của ngân sách nhà nước. Chỉ thường xuyên có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, chỉ thường xuyên mang tính én định: Việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính ổn định duy trì cho sự hoạt động của bộ máy nhà nước. Tính ổn định của chỉ thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ồn định trong từng hoạt động cụ thể của mỗi bộ phận thuộc bộ máy nhà nước.
Thứ hai, đó là các khoản chỉ mang tính chất tiêu dùng xã hội: Các khoản chỉ thường xuyên chủ yếu nhằm trang trải các nhu cầu về quản lý hành chính sự nghiệp nhà nước, về quốc phòng, an ninh và các hoạt động xã hội khác do nhà nước tổ chức Thứ ba, phạm vi, mức độ chỉ thường xuyên gắn chặt với cơ cầu tổ chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công. Các khoản chi thường xuyên hướng vào việc đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, do đó, nếu bộ máy nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì số chỉ thường xuyên giảm. Hoặc những quyết định của nhà nước trong việc lựa chọn những phạm vi, mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên. s* Nội dung của các khoản chỉ thường xuyên: Thứ nhất, chỉ cho sự nghiệp văn hóa - xã hội: Là các khoản chỉ mang tính chất tiêu dùng xã hội, liên quan đến sự phát triển đời sống tỉnh thần các tang lớp nhân dân.
Chi văn hóa - xã hội gắn liền với chi đầu tư phát triển nhân tố con người. Chi văn hóa - xã hội bao gồm các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp: sự nghiệp khoa học - công nghệ, sự nghiệp giáo dục - đảo tạo, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh - truyền hình và các họat động khác. Chỉ quản lý hành chính nhà nước: Với chức năng quản lý toàn diện nền kinh tế - xã hội, nên bộ máy hành chính nhà nước được thiết lập từ TW đến địa phương và toàn bộ các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Chỉ quản lý hành chính của nhà nước nhằm đảm bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước.
Hoạt động chỉ này bao gồm: - Chỉ cho hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. - Chỉ cho hoạt động của hệ thống các cơ quan tư pháp nhà nước. - Chỉ cho hoạt động quản lý vĩ mô nền kinh tế - xã hội. Tiếp đến, là Chi quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chỉ quốc phòng an ninh được tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trong, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ồn định trật tự xã hội va sự toàn vẹn lãnh thé.
Khoản chi nay được chia làm hai bộ phận cơ bản sau: - Các khoản chi cho quốc phòng dé phòng thủ và bảo vệ Nhà nước, chống sự xâm lược và đe dọa của nước ngoài. - Các khoản chỉ nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dan cư trong nước.